Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày 07-02-2025.

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Tuân
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Yến Nhi
  • Ông Lê Đình Khôi
  • Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Văn Năng - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.
  • Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 200/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 34/TB-TA ngày 16 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Trương Hoàng Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Trương Hoàng Q1, Quí Đ; Sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông Trương Hoàng N, sinh năm1959 (đã chết) và bà Lâm Thị Sơ M, sinh năm 1956; Vợ, con: không có; Tiền án: Tại bản án số 89/2014/HSST ngày 30/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm 04 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2018, chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Chị Trương Thị Hoàng O, sinh năm 1981. (Có mặt)

Nơi cư trú: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Quốc T, sinh năm 1985.(Vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trương Hoàng Q, sinh năm 1985, ngụ khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ ngày 02/11/2024, Q điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Vison màu xám biển kiểm soát 60B3 – 817.59 đi từ nhà ở xã T, huyện T lên xã P huyện T gặp một người đàn ông tên “C” (không xác định được nhân thân, lai lịch) để mua 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, Q cất giấu gói ma túy vào túi quần jean bên phải rồi điều khiển xe mô tô vào quán C1 thuộc ấp T, xã P, huyện T để sử dụng. Khi đến quán, Q vào chòi số 5 thì bị lực lượng Công an xã P kiểm tra hành chính, phát hiện đang tàng trữ trái phép 01 gói ma túy đã kích thước 03x02cm nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói ni lông trong suốt hàn kín hai đầu kích thước 03x02cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (đã lập biên bản niêm phong).
  • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc, 01 nỏ thủy tinh, 01 bật lửa, 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xám biển kiểm soát 60B3 – 817.59.

Tại kết luận giám định số 2226/KL-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1.1227 gam, loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSTP-DN ngày 20 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú truy tố bị cáo Trương Hoàng Q1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ nguyên quyết định truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm.

Căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trương Hoàng Q1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt bị cáo Trương Hoàng Q1 từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 phong bì giấy niêm phong số 2226/KL-KTHS bên trong đựng ma túy sau giám định; 01 nỏ thủy tinh, 01 bật lửa là công cụ dùng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma túy.

01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc là tài sản hợp pháp của Trương Hoàng Q, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho Trương Hoàng Q.

01 xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xám biển số 60B3 – 817.59 là tài sản hợp pháp của bà Trương Thị Hoàng O (chị ruột Q), khi Q mượn xe mô tô thì bà O không biết việc Q sử dụng vào mục đích đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trao trả lại xe mô tô trên cho bà O.

Đối với đối tượng tên C (không xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, là người đã bán ma túy cho Trương Hoàng Q. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nên không có cơ sở để xử lý.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ kết tội và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa bị cáo Trương Hoàng Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong hồ sơ vụ án, như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 11 giờ 25 phút ngày 02/11/2024 tại quán C1 thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trương Hoàng Q có hành vi tàng trữ 01 gói ni lông có kích thước 03x02cm bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,1227 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã P phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật

Như vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trương Hoàng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, mặc dù đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường nên chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[4] Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo và quyết định hình phạt: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự tại địa phương. Việc tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người, là nguồn lây lan nhiều căn bệnh nguy hiểm và là nguyên nhân gia tăng các loại tội phạm về hình sự. Do đó cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về Biện pháp tư pháp: Đối với 01 phong bì niêm phong số 2226/LK-GĐ-KTHS bên trong đựng ma túy sau giám định là vật cấm tàng trữ lưu hành; 01 nỏ thủy tinh, 01 bật lửa không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc của bị cáo Trương Hoàng Q; 01 xe mô tô hiệu Honda loại Vision màu xám biển số 60B3 – 817.59 là tài sản hợp pháp của bà Trương Thị Hoàng O không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho chủ sở hữu là phù hợp.

[6] Về các vấn đề khác: Quá trình điều tra, Trương Hoàng Q khai nhận mua ma túy của một đối tượng tên C (không xác định được nhân thân, lai lịch) tại khu vực xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa làm rõ được nên không có cơ sở để xử lý.

[7] Về án phí: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.

[9] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Trương Hoàng Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Trương Hoàng Q 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 2226/LK-GĐ-KTHS bên trong đựng ma túy sau giám định; 01 nỏ thủy tinh, 01 bật lửa hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú theo biên bản giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 24/12/2024.
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Hoàng Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 11 giờ 25 phút ngày 02/11/2024 tại quán cà phê Mộc thuộc ấp Th, xã Ph, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trương Hoàng Q có hành vi tàng trữ 01 gói ni lông có kích thước 03x02cm bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng 1,1227 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an xã Phú Lâm phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger