trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2025/HNGĐ-ST

Ngày 23/01/2025

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Bà Lê Thị Minh Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Như Ý - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 23/01/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 276/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 292/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 23/12/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Phan Văn D, sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Chị Lăng Thị B, sinh năm 1987 (có đơn xin vắng mặt)

HKTT: thôn C, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Địa chỉ: 2, thành phố I, tỉnh Chiba (căn hộ R số D), Nhật Bản.

* Người đại diện theo uỷ quyền nhận các văn bản tố tụng của chị B: Bà Vũ Thị Lan H, sinh năm 1967

Địa chỉ: Số D đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Phan Văn D trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lăng Thị B được tự do tìm hiểu, việc kết hôn trên cơ sở tình cảm đôi bên. Anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn ngày 06/8/2018 tại UBND xã T, huyện L. Sau khi kết hôn thì năm 2022, chị B đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Từ đó giữa vợ chồng anh chị đã phát sinh mâu thuẫn, xa cách, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, anh và chị B không thể chung sống với nhau được nữa nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lăng Thị Bến .

- Về con chung: Anh và chị Lăng Thị B có 01 con chung là cháu Phan Thành N, sinh ngày 04/3/2019. Ly hôn anh đề nghị được nuôi con chung và không yêu cầu chị B cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh D không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là bị Lăng Thị B trình bày tại bản tự khai:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý với điều kiện kết hôn, thời gian kết hôn như anh D đã trình bày. Sau khi kết hôn chị về nhà chồng làm dâu ngay. Thời gian đầu tình cảm vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc. Từ năm 2022, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, không thống nhất trong công việc làm ăn để phát triển kinh tế trong gia đình. Đỉnh điểm là việc chị đi Nhật Bản lao động thì vợ chồng lại bất đồng trầm trọng. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn. Anh D xin ly hôn thì chị đồng ý. Chị đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho chúng tôi được ly hôn.

- Về con chung: Chị và anh Phan Văn D có 01 con chung là cháu Phan Thành N, sinh ngày 04/3/2019. Ly hôn anh D đề nghị được nuôi con chung thì chị đồng ý để anh nuôi. Nếu anh D yêu cầu tiền cấp dưỡng nuôi con chị đồng ý, anh D không yêu cầu cấp dưỡng cho con chị cũng không có ý kiến gì.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Phan Văn D có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị Lăng Thị B có đơn xin vắng mặt và đã gửi bản tự khai cho Toà án. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn D. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn D được ly hôn với chị Lăng Thị Bến .

Về con chung: Giao cháu Phan Thành N, sinh ngày 04/3/2019 cho anh Phan Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung: không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Anh Phan Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Phan Văn D có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, nuôi con chung đối với chị Lăng Thị Bến . Bị đơn chị Lăng Thị B có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang lao động tại Nhật Bản. Căn cứ công văn số: 30905/QLXNC-P3 ngày 27/12/2024 của Cục Q thì chị B đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 08/04/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn chị Lăng Thị B được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Anh D, chị B có đơn xin xét xử vắng mặt. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn D và chị Lăng Thị B kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 06/8/2018 tại UBND xã T, huyện L nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh D xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị B. Xem xét đơn khởi kiện của anh D, HĐXX thấy: Sau khi kết hôn cuộc sống hôn nhân thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm không hòa hợp được. Chị B đi nước ngoài từ năm 2022, vợ chồng xa cách và sống ly thân từ đó đến nay, không quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Chị B cũng xác định vợ chồng không còn tình cảm và đồng ý ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh D và chị B đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D, xử cho anh D được ly hôn với chị B.

[4]. Về con chung: Đối với cháu Phan Thành N, sinh ngày 04/3/2019 hiện đang ở cùng anh D. Cả anh D và chị B đều thống nhất giao cháu N cho anh D nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu N cho anh D được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): Các đương sự không đề nghị nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Phan Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 161, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phan Văn D.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn D được ly hôn với chị Lăng Thị Bến .
  2. Về con chung: Giao cháu Phan Thành N, sinh ngày 04/3/2019 cho anh Phan Văn D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

    Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

  3. Về án phí: Anh Phan Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000130 ngày 17/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  4. Về quyền kháng cáo:

- Chị Lăng Thị B hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

- Anh Phan Văn Du cư T tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp Cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang ;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Trung Thông

THÀNH VIÊN

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Đỗ Văn Long

THẨM PHÁN -

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Chiến

Nguyễn Trung Thông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HNGĐ-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 26/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Phan Văn D tranh chấp ly hôn, con chung với chị Lăng Thị B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger