|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 10 - 12 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lý Minh Quý;
- Ông Tẩn Cao Sơn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS, ngày 11/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS, ngày 05/11/2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Tẩn L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 25/4/2003, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Tẩn S, đã chết; mẹ đẻ: Phàn Tả M, sinh năm 1977; vợ: Phàn Tả M, sinh năm 2004; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/6/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Tẩn C, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 19/3/1983, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Dao; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Tẩn P, đã chết; mẹ đẻ: Tẩn San M1, sinh năm 1956; vợ: Phàn San M2, sinh năm 1986; bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh viên pháp lý, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.
Các bị hại đồng thời là các bị cáo: Tẩn Lao T, sinh năm 2003, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Tẩn Chin C, sinh năm 1983, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, đều có mặt.
Những người làm chứng:
Anh Tẩn Chỉn C1, sinh năm 2003, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
Anh Tẩn Lao L, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
Anh Tẩn Lao L, sinh năm 1994, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
Ông Tẩn Sài C2, sinh năm 1971, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
Anh Tẩn Sài T1, sinh năm 1987, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
Anh Tẩn Chin S, sinh năm 1988, địa chỉ: Bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 9 năm 2023, Tẩn Chin C thuê máy xúc san gạt khu vực đất trống tại bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, mục đích để làm nhà. Khi C đang tiến hành đào móng thì Tẩn Phủ D, sinh năm 1955, trú tại bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu đến tranh chấp với C, không cho C tiếp tục làm nhà trên phần đất này vì D cho rằng đây là đất của tổ tiên Duyền để lại. Tranh chấp giữa C và D sau đó đã được Ủy ban nhân dân xã S xem xét giải quyết nhưng chưa có kết quả. Khoảng 20 giờ, ngày 09/10/2023, Tẩn L cùng Tẩn Chỉn C1, Tẩn L (sinh năm 1999), Tẩn Lao L (sinh năm 1994) đang ngồi uống nước tại quán tạp hoá của Tẩn Lao L (sinh năm 1994), tại bản L, xã S thì D đến. Tại đây, D có nói chuyện với T, C1, Tẩn Lao L (sinh năm 1999), Tẩn Lao L (sinh năm 1994) về việc C vẫn tiếp tục đào móng để xây nhà trên phần đất đang tranh chấp giữa D và C, sau đó, D đi về. Sau khi D về, T rủ mọi người đi đến khu vực đất tranh chấp, mục đích để bảo C không được xây dựng nhà trên đất nữa, nếu C không đồng ý thì sẽ dùng búa tạ đập vỡ móng nhà của C. Nghe T nói vậy, C1, L (Sinh năm 1999), L (Sinh năm 1994) đều đồng ý. Sau đó, T cầm theo 01 chiếc búa tạ và 01 chiếc đèn pin đội đầu, đều lấy trong quán của L (Sinh năm 1994). Mục đích T mang theo đèn pin để soi đường đi, còn chiếc búa dùng để phá nhà Chang xây dựng trên đất tranh chấp.
Khoảng 21 giờ cùng ngày, T, C1, L (Sinh năm 1999) và L (Sinh năm 1994) đến gần khu vực đất tranh chấp, là phần đất nằm ở phía tả luy âm thuộc bản Lả Nhì T2, xã S, huyện P, đã được C san gạt mặt bằng và đang xây móng nhà. Do không thấy C, L (Sinh năm 1999) và L (Sinh năm 1994) đi về phía lán 01 con dao phát ở trên đống đá nên C vứt bỏ đoạn gỗ, cầm lấy con dao đi ra. Khi đi đến cách chỗ T khoảng 01 m, thấy T đang ở trên nền móng cao hơn Chang khoảng 01 m. C cho rằng T đang dùng búa đập móng nhà mình, C bảo đừng phá nhưng T không nghe, bực tức C dùng dao chém một phát vào mặt sau cẳng chân trái của T. Khi T lùi lại, C trèo lên móng nhà rồi tiếp tục dùng dao chém theo hướng từ trên xuống dưới, từ trái qua phải về phía Tả. Tả vừa lùi vừa dùng hai tay cầm cán búa, liên tục vung búa theo chiều ngang từ trái qua phải và từ phải qua trái về phía Chang. Quá trình đánh nhau, C chém trúng vùng thái dương đỉnh trái và vai trái của T. Tả vung búa lùi đến gần tả luy dương thì đứng lên một hòn đá cao khoảng 30-40cm, tiếp tục vung búa trúng trán bên phải và gò má bên trái của C làm C ngã xuống ngất tại chỗ. Sau đó, T3 Chin Chang được mọi người đưa đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh L cấp cứu, Tẩn L được đưa đến Trạm Y tế xã S, huyện P điều trị. Tẩn Lao Tả đã có đơn đề nghị xử lý về hình sự đối với hành vi cố ý gây thương tích của Tẩn C.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 195/KLTTCT-TTPYLC, ngày 05/12/2023, của Trung tâm P - Sở Y tế tỉnh L, kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tẩn Chin Chang tại thời điểm giám định là 16%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tỷ lệ từng thương tích của Tẩn Chin C: Trán bên phải xát chân tóc có 01 sẹo kích thước dài 3,5cm, rộng 01cm có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06%. Gò má bên trái có 01 sẹo kích thước dài 3,5cm, rộng 01cm, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Hình ảnh gãy cung tiếp trái, tại vị trí ổ gãy đã cố định xương bằng nẹp vis, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 9%.
Cơ chế hình thành tổn thương trên cơ thể anh Tẩn Chin C: Do vật tày tác động trực tiếp gây nên.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 191/KLTTCT-TTPYLC, ngày 04/12/2023, của Trung tâm P - Sở Y kết luận: Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019, quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Tẩn Lao Tả tại thời điểm giám định là 07%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Tỷ lệ từng thương tích của Tẩn Lao Tả: Thái dương đỉnh trái có sẹo kích thước dài 1,2cm rộng 0,4cm sẹo nền hồng, có tỷ lệ tổn thương là 01%. Mỏm cùng vai trái có sẹo kích thước dài 3,3cm, rộng 0,3cm, sẹo nền hồng, có tỷ lệ tổn thương là 02%. 1/3 trên mặt sau cẳng chân trái có 02 sẹo; sẹo số 01 có kích thước dài 08cm, rộng 0,1cm có tỷ lệ tổn thương là 02%; sẹo số 02 có kích thước dài 11cm, rộng 0,1cm có tỷ lệ tổn thương là 02%. Cơ chế hình thành tổn thương trên cơ thể Tẩn Lao Tả: Do vết thương đã qua xử trí nên không xác định được.
Quá trình điều tra, C cho rằng T đang dùng búa đập móng nhà mình, C bảo đừng phá nhưng T không nghe, bực tức C dùng dao chém vào Tả. Tuy nhiên, T khai chưa đập phá gì.
Vật chứng thu giữ của Tẩn Lao T: 01 chiếc búa có tổng chiều dài 80cm, phần cán búa bằng gỗ có chiều dài 70cm, đầu búa làm bằng kim loại có kích bằng gỗ có chiều dài 36cm; 01 đoạn gỗ có chiều dài 1,7m. Đối với 02 chiếc đèn pin đội đầu Tẩn L và T3 Chin Chang sử dụng, T và C khai đã làm mất nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Tại bản Kết luận giám định AND số: 95/24/KLGĐADN-PYQG, ngày 23/01/2024, của V - Bộ Y kết luận: AND thu mẫu búa (phần đầu búa) và mẫu con dao (phần cán dao) trùng khớp hoàn toàn với AND của Tẩn Chin Chang trên các locus STR đã so sánh.
Khi xảy ra vụ việc, Tẩn C, Tẩn L (Sinh năm 1999), Tẩn L (Sinh năm 1994) có chạy đến can ngăn, nhưng do diễn biến xảy ra nhanh nên không kịp ngăn cản hành vi của T và C. Tẩn S, là chú họ của C ở gần đó biết tin C bị đánh chạy đến dùng chân đạp vào lưng T và dùng thanh củi vụt vào mông T nhưng không gây thương tích cho T. Tẩn Sài T1 nghe tiếng ồn ào chạy đến can ngăn, quá trình xô đẩy với mọi người bị vật sắc đâm vào lưng bên trái gây ra thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 1%, do trời tối nên không ai xác định được chính xác người gây ra thương tích cho T1.
Về trách nhiệm dân sự: Trước khi mở phiên tòa, các bị cáo đồng thời là các bị hại đã thỏa thuận thống nhất: Tẩn Chin Chang có trách nhiệm bồi thường cho T3 Lao Tả số tiền 8.000.000 đồng. Tẩn Lao Tả có trách nhiệm bồi thường cho Tẩn C3 Chang số tiền 25.000.000 đồng. Tả và C đều đã thực hiện xong việc bồi thường và không ai có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 99/CT-VKSPT, ngày 10 tháng 10 năm 2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Tẩn Lao T về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Tẩn Chin C về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Tẩn Lao T phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Tẩn Chin C phạm tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn Lao T từ 02 (Hai) năm, 04 (Bốn) tháng đến 02 (Hai) năm, 08 (T4) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn Chin C từ 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng đến 01 (Một) năm, 08 (Tám) tháng cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo Tẩn Chin C trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Về xử lý vật chứng, điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm: 01 chiếc búa tạ, 01 con dao phát, 01 đoạn gỗ và vỏ niêm phong vật chứng. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí cho các bị cáo. Tranh luận với đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Tẩn Chin C về mức hình phạt đối với bị cáo C, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm luận tội.
Người bào chữa cho bị cáo Tấn Chin C đồng quan điểm với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về xử lý vật chứng và án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân, nguyên nhân, mục đích phạm tội, điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo tẩn Chin Chang để quyết định hình phạt đối với bị cáo Tẩn Chin C ở mức khởi điểm của hình phạt cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai, được thu thập theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản sự việc, biên bản kiểm tra, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 21 giờ, ngày 09/10/2023, do biết được giữa Tẩn C và Tẩn P có mâu thuẫn trong việc giải quyết tranh chấp đất đai, Tẩn L đã rủ Tẩn Chỉn C1, Tẩn Lao L (sinh năm 1999), Tẩn Lao L (sinh năm 1994) đi đến gặp Tẩn C để nói chuyện, ngăn cản không cho C tiếp tục làm nhà trên phần đất đang tranh chấp tại bản L, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu. Khi đến nơi, hai bên xảy ra xích mích, Tẩn Chin C dùng 01 con dao phát (là hung khí nguy hiểm) chém trúng cẳng chân trái, thái dương đỉnh trái và vai trái của T3 Lao Tả, gây thương tích cho T với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 7%. Đồng thời, T đã thực hiện hành vi dùng 01 chiếc búa tạ (là hung khí nguy hiểm) đánh vào trán phía bên phải, gò má bên trái của Tẩn Chin C, gây thương tích cho C với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%.
Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Tẩn Lao T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Các bị cáo đồng thời là các bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho nhau. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tẩn Chin C phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ L1.
[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo đều phạm tội lần đầu, ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nhưng cần áp dụng hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra. Đối với bị cáo Tẩn Lao T có thể được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Đối với bị cáo Tẩn Chin C có thể áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để giám sát, giáo dục bị cáo. Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo C khó khăn, bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không khấu trừ thu nhập của bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt.
Quan điểm của Kiểm sát viên về hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp nên cần được chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa về đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Tẩn Chin C ở mức khởi điểm của khung hình phạt cải tạo không giam giữ là quá nhẹ, không phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[5] Tình tiết có liên quan trong vụ án:
Ngày 09/10/2023, Tẩn Phủ D nói chuyện với bị cáo Tẩn Lao T và những người khác về việc D có tranh chấp đất đai với Tẩn Chin C. Sau đó, D không bàn bạc, không cùng thực hiện hành vi gây thương tích cho C nên D không đồng phạm với T trong vụ án này.
Việc Tẩn Chin C khai Tẩn Lao Tả dùng búa đập móng nhà của C. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai, đối chất giữa T và C, nhưng T không thừa nhận hành vi đập phá móng nhà. Ngoài lời khai của Chang, không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Vì vậy, không có căn cứ xử lý Tẩn Lao Tả về hành vi hủy hoại tài sản của người khác.
Đối với Tẩn Chỉn C1, Tẩn L (Sinh năm 1999), Tẩn Lao L (Sinh năm 1994), là những người đi cùng T3 Lao Tả nhưng trước đó không bàn bạc, thoả Đối với Tẩn Sài C2 có hành vi dùng chân, thanh củi đánh Tẩn Lao Tả. C2 đánh T sau khi việc đánh nhau giữa T và C đã kết thúc và trước đó không có sự bàn bạc giữa C2 với C nên Chân không phải là đồng phạm với C trong vụ án. Hành vi của Chân không gây thương tích cho T, do đó Cơ quan điều tra chuyển tài liệu cho Công an xã S xử lý hành chính theo thẩm quyền theo quy định.
Đối với thương tích của Tẩn Sài T1 xảy ra trong quá trình can ngăn, do hết thời hạn điều tra nhưng không xác định được người đã thực hiện hành vi gây thương tích cho T1, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan để xử lý trong một vụ việc khác.
[6] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý: Các vật chứng gồm: 01 chiếc búa tạ, 01 con dao phát, 01 thanh gỗ, đều là những vật các bị cáo dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Các vỏ niêm phong vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đồng thời là các bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và thực hiện xong thỏa thuận về bồi thường thiệt hại, không ai yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo Tẩn Chin C thuộc diện hộ nghèo. Các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí nên căn cứ quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
1. Về tội danh: Bị cáo Tẩn Lao T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Tẩn Chin C phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Tẩn Lao T: 02 (Hai) năm, 04 (Bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, 08 (Tám) tháng, kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Tẩn Lao T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Tẩn Lao T thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Tẩn Chin C: 01 (Một) năm, 03 (Ba) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện P, tỉnh Lai Châu nhận được quyết định thi hành án. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
Giao bị cáo Tẩn Chin C cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo thực hiện nghĩa vụ của người chấp hành án theo quy định tại Điều 99 của Luật Thi hành án hình sự. Trường hợp người bị phạt cải tạo không giam giữ không có việc làm hoặc bị mất việc làm trong thời gian chấp hành hình phạt này thì phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 của Bộ luật Hình sự.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc búa có tổng chiều dài 80cm, phần cán búa bằng gỗ có chiều dài 70cm, đầu búa làm bằng kim loại có kích thước 20,4x10,5cm; 01 con dao phát, bằng kim loại có tổng chiều dài 74cm, phần dao bằng kim loại có chiều dài 47cm, phần rộng nhất của dao là 05cm, mũi dao cong tròn không nhọn, lưỡi dao đã bị rỉ sét, cán dao bằng gỗ có chiều dài 36cm; 01 đoạn gỗ có chiều dài 1,7m; vỏ niêm phong vật chứng.
(Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.).
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, đồng thời là các bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hạnh |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo pt cố ý gây thương tích
