Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 05-12-2024

V/v “Xin ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Thẩm phán:

  • Ông Đặng Ngọc Bình
  • Ông Nguyễn Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Huyền Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 23/2024/TLPT-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”.

Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 484/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số nhà A, Tổ A, thôn Q, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số nhà A, Tổ F, thôn Q, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Hữu L – Bị đơn.

(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Bà và ông Nguyễn Hữu L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng vào ngày 19/11/2001. Vợ chồng có tổ chức lễ cưới theo phong tục truyền thống. Quá trình chung sống bà không hạnh phúc. Nguyên nhân là do ông L có tính cách gia trưởng, coi thường vợ và hay chửi, xúc phạm vợ. Đồng thời quan hệ mẹ chồng nàng dâu giữa bà và mẹ ông L không được tốt, mẹ chồng thường có những lời nói, lời chửi khiến bà buồn lòng. Vào khoảng năm 2020 - 2021 ông L đã bán đất của vợ chồng nhưng giữ và tiêu riêng, ông L không cho bà biết đã dùng số tiền bán đất vào việc gì và cũng không đưa tiền cho bà, vì sự việc trên bà cảm thấy là một người vợ nhưng không được chồng tôn trọng, bởi lẽ việc bán tài sản lớn trong gia đình nhưng ông L không bàn bạc, không chia sẻ với vợ.

Năm 2022 bà đã gửi đơn khởi kiện xin ly hôn ông L, trong quá trình giải quyết vụ án bà đã rút đơn và quay về chung sống với ông L, cho ông L một cơ hội sửa đổi. Tuy nhiên, khi bà quay về thì ông L cũng không sửa đổi mà vẫn nghi kỵ, ghen tuông, không tin tưởng bà, gièm pha, nói xấu bà, cố ý làm mất uy tín của bà trong công việc làm ăn và các mối quan hệ xã hội. Bà đã về nhà mẹ đẻ sinh sống và sống ly thân với ông L từ tháng 11/2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông L.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu L trình bày:

Ông xác nhận ông và bà Nguyễn Thị Kim P tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có tổ chức lễ cưới là đúng theo trình bày của bà P. Quá trình chung sống vợ chồng ông không có mâu thuẫn. Ông xác định trong quá trình chung sống thì ông cũng có tính gia trưởng. Còn việc vợ chồng cãi nhau là không có, việc làm ăn thì trong gia đình chủ yếu ông là trụ cột gia đình. Ông là người quán xuyến việc làm ăn và các công việc trong gia đình. Theo ông, vợ chồng sống ly thân 2 năm nay. Ông không biết nguyên nhân bà P bỏ đi và ông cũng không quan tâm. Ông là người theo đạo Công giáo không được ly hôn và ông nghĩ đến tương lai của các con nên ông không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Bà P và ông L đều xác định có 03 con chung tên Nguyễn Hữu V, sinh ngày 05/3/2006; Nguyễn Hoàng Trân P1, sinh ngày 06/7/2008 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 20/10/2011. Hiện cháu V đã thành niên, cháu T và cháu P1 đang do ông L trực tiếp nuôi dưỡng.

Bà P và ông L thống nhất giao cháu Nguyễn Hoàng Trân P1 và Nguyễn Hoàng Minh T cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên. Bà P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu P1 và cháu T mỗi cháu 1.200.000 đồng/tháng cho đến khi cháu P1 và cháu T đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông L thống nhất tự thỏa thuận về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành

Tại bản án sơ thẩm số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương đã xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim P đối với ông Nguyễn Hữu L. Cho bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hữu L được ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hoàng Trân P1, sinh ngày 06/7/2008 và cháu Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 20/10/2011 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Bà P có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 1.200.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/8/2024 cho đến khi cháu P1 và cháu T đủ 18 tuổi.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền đi lại, thăm nom chăm sóc con chung, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/8/2024, bị đơn ông Nguyễn Hữu L kháng cáo không đồng ý ly hôn với bà P, đề nghị giao con chung Nguyễn Hoàng Trân P1 và Nguyễn Hoàng Minh T cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng.

Tại phiên tòa:

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà P và rút một phần kháng cáo về con chung.

Nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng nêu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phần kháng cáo về con chung và căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông L về việc bà P xin ly hôn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Lương nộp trong hạn luật định, người kháng cáo, thủ tục kháng cáo được thực hiện theo đúng quy định tại Điều 271, Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Tại phiên tòa ông L rút một phần kháng cáo về con chung. Xét việc rút một phần kháng cáo này là tự nguyện nên căn cứ khoản 3 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử phần kháng cáo về con chung của ông L.
  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L yêu cầu được đoàn tụ gia đình thấy rằng: Vợ chồng ông L, bà T1 đều thừa nhận quá trình sống chung tuy có hòa thuận, hạnh phúc nhưng đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu do vợ chồng không còn tin tưởng nhau về tình cảm, về kinh tế dẫn đến xúc phạm lẫn nhau. Vợ chồng ông L, bà P thừa nhận cho đến nay cả hai đã sống ly thân được khoảng 02 năm. Khi bà P bỏ về nhà mẹ đẻ ở thì ông L cũng không quan tâm, không hàn gắn, cả hai vẫn tiếp tục sống ly thân cho đến nay.

    Tại phiên tòa, ông Lương X được đoàn tụ gia đình nhưng không cung cấp được các tài liệu chứng minh việc hàn gắn vợ chồng là cần thiết, bà P cũng khẳng định không còn tình cảm với ông L. Tòa án cấp sơ thẩm phân tích, nhận định mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng và kéo dài, hai bên không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống, có tiếp tục kéo dài quan hệ hôn nhân thì mục đích của hôn nhân cũng không đạt được và căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, cho bà P được ly hôn với ông L là phù hợp, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông L.

  5. Từ những phân tích trên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như ý kiến đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
  6. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 3 Điều 289, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Hữu L.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương.

Xử:

  1. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Kim P và ông Nguyễn Hữu L
  2. Đình chỉ xét xử phần kháng cáo về con chung của ông L.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của ông L và bà P: Giao hai con chung tên Nguyễn Hoàng Trân P1, sinh ngày 06/7/2008 và Nguyễn Hoàng Minh T, sinh ngày 20/10/2011 cho ông L trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi thành niên.

    Bà P có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cháu P1 và cháu T mỗi cháu 1.200.000 đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/8/2024 cho đến khi các cháu thành niên.

    Con chung tên Nguyễn Hữu V, sinh ngày 05/3/2006 hiện đã thành niên và không thuộc trường hợp phải cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

    Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Bà P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 150.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002406 ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Bà P còn phải nộp 150.000 đồng tiền án phí.

    Ông Nguyễn Hữu L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002638 ngày 05 tháng 9 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng. Ông L đã nộp đủ án phí phúc thẩm.

  5. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - TAND huyện Đơn Dương;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-PT ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về xin ly hôn

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger