Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PÁC NẶM

TỈNH BẮC KẠN

Bản án số: 26/2024/HS - ST

Ngày 29/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Thanh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ma Thị Sao

Bà Hoàng Thị Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Ma Thị Anh Trâm - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vi Văn Luận - Kiểm sát viên và ông Nguyễn Thế Anh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/HSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Hoàng Nông H - Tên gọi khác: Không, sinh ngày 06 tháng 12 năm 1990 tại xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Hoàng Thị B; có vợ là Lộc Thị M và 01 con sinh năm 2016.

Tiền án: 04.

Ngày 02/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tại bản án hình sự sơ thẩm số 14/2019/HS-ST.

Ngày 21/02/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm xử phạt 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST.

Ngày 28/4/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2020/HS-ST.

Ngày 28/11/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 12 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2022/HS-ST.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Ngày 15/5/2006 bị Ủy ban nhân dân tỉnh B ra Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng.

Ngày 03/9/2019 bị Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản.

Hiện nay bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/8/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Thào Thị S, sinh năm 1995.

Trú tại: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Thào Văn T1, sinh năm 1994.

Trú tại: Thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Anh Hứa Văn B1, sinh năm 1992.

Trú tại: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

Bà Hoàng Thị B, sinh năm 1969.

Trú tại: Thôn N, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

Anh Hoàng Văn T2, sinh năm 1990.

Trú tại: T thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu sài nên sáng 30/7/2024, khi đang điều khiển xe mô tô chở Hứa Văn B1, sinh năm 1992, trú tại thôn P, xã C, huyện P đi từ huyện B về xã N, huyện P, bị cáo Hoàng Nông H đã rủ Hứa Văn B1 cùng nhau đi vào khu vực xã A, huyện P để trộm cắp tài sản thì được B1 đồng ý cùng thực hiện. Khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97B1-547.28 chở B1 đi từ xã N đến xã A, huyện P tìm tài sản để lấy trộm, nhưng không lấy trộm được tài sản gì. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H và B1 quay về đến thôn K, xã N, huyện P thì phát hiện gia đình chị Thào Thị S, sinh năm 1995, trú tại thôn K, xã N, huyện P đang mở cửa, H dừng xe ở lề đường và cùng B1 đi bộ lên nhà chị S mục đích tìm tài sản để lấy trộm, khi lên đến sân nhà chị S thì B1 quay lại chỗ dựng xe mô tô đợi, H đi đến cửa nhà bếp thì thấy chị S đang nấu cám lợn trong bếp, H hỏi "nhà T3 ở đâu", chị S trả lời "nhà T3 ở dưới kia" và chỉ vị trí cho H, H hỏi tiếp "nhà có nước uống không" chị S trả lời "không biết có hay không" sau đó tiếp tục nấu cám lợn trong bếp còn H đi vào trong nhà chính mục đích tìm tài sản, khi đi đến vị trí kê bàn uống nước trong nhà, H rót nước uống thì phát hiện chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Note 50, thân máy màu xanh của chị S đặt tại nền nhà để sạc pin, H uống nước xong rồi đi đến rút dây sạc rồi lấy chiếc điện thoại cất giấu vào túi quần đằng sau bên phải đang mặc, sau đó đi vào trong nhà bếp và nói với chị S "anh về đây", thấy chị S nấu cám lợn, H hỏi "nhà nuôi nhiều lợn gà không" thì chị S nói "không có mấy", rồi H đi đến chỗ B1 đang đợi ra hiệu cho B1 khởi động xe mô tô để chạy nhưng B1 không hiểu ý, H đi đến tự khởi động xe chở B1 đi đến thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để bán chiếc điện thoại vừa lấy trộm được, trên đường đi H nói với B1 "tao trộm được một cái chiếc điện thoại", sau đó H và B1 cùng thử mở khóa nhưng không được. Khoảng 19 giờ cùng ngày, H chở B1 đến cửa hàng "Bệnh viện điện thoại" của anh Hoàng Văn T2, tại Tiểu khu F, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn để bán chiếc điện thoại, khi anh T2 đang kiểm tra chiếc điện thoại thì anh Thào Văn T1 (là chồng chị S) tìm thấy nên giữ chiếc điện thoại và đưa B1 đến Công an xã N để làm việc, còn H thì bỏ chạy.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 09 giờ 00 phút ngày 01/8/2024, của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, xác định: Hiện trường nơi xảy ra vụ trộm cắp tài sản là tại nhà ở của T, thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Vị trí H lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Note 50 của chị S tại trên mặt nền nhà trên diện 1m x 2m, vị trí H dựng xe và B1 đứng đợi tại lề đường nhựa (đường liên xã N - A).

Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTX ngày 08/8/2024, của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân huyện P, kết luận: Tại thời điểm tháng 07/2024, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Note 50, màn hình cảm ứng, thân máy màu xanh đã qua sử dụng, trị giá 1.500.000 đồng.

Hứa Văn B1 khai nhận: B1 và H là người quen biết nhau, buổi sáng 30/7/2024, khi được H rủ đi xã A, huyện P trộm cắp tài sản thì B1 đồng ý. Giữa H và B1 không có sự phân công nhiệm vụ của từng người, Khi lên nhà chị S, B1 cũng đi đến sân nhà nhưng thấy chó sủa nên quay lại chỗ dựng xe đợi H. Sau khi H lấy trộm được chiếc điện thoại có nói cho B1 biết, B1 cũng thử phá mật khẩu nhưng không được. Khi B1 đem chiếc điện thoại đến bán tại cửa hàng điện thoại có tên "bệnh viện điện thoại" tại thị trấn C, huyện B thì bị anh T1 phát hiện.

Chị Thào Thị S khai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 30/7/2024, khi đang nấu cám lợn trong bếp thì thấy H và B1 đi bộ lên nhà, B1 đi lên đến sân thì quay lại đi xuống đường nhựa, H nói chuyện với chị S mấy câu và hỏi thăm nhà anh T3 là người cùng thôn, rồi H đi bộ về phía nhà em trai bên cạnh nhà chị S nên chị S không để ý. Được khoảng 3 phút thì thấy người này đi về, có đi qua nhà bếp và nói chuyện mấy câu với chị S rồi đi về luôn. Do nghi ngờ bị mất tài sản, nên chị S lên nhà chính kiểm tra thì phát hiện chiếc điện thoại nhãn hiệu Realme Note 50 màu xanh, đang sạc pin tại nền nhà đã bị mất, khi chạy ra sân thì thấy H và B1 đã điều khiển xe mô tô đi về hướng xã N. Chị S mượn xe của người khác đuổi theo nhưng không kịp, sau đã liên lạc với chồng là Thào Văn T1 đi tìm.

Lời khai của bị cáo Hoàng Nông H phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSPN ngày 15/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm để xét xử Hoàng Nông H về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Nông H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

a) Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Hoàng Nông H từ 12 đến 15 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo

b) Xử lý vật chứng: Không có.

c) Về trách nhiệm dân sự: Chị Thào Thị S và bà Hoàng Thị B không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

d) Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, có hộ khẩu thường trú và chỗ ở thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tuy nhiên bị cáo không có đơn xin miễn án phí, do vậy bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Như vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận:

Khoảng 15 giờ ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Hoàng Nông H đã trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme Note 50 của chị Thào Thị S giá trị 1.500.000 đồng. Mặc dù lần trộm cắp này trị giá tài sản dưới 2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy hành vi bị cáo trộm cắp chiếc điện thoại của chị Thào Thị S đã đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm truy tố về tội “trộm cắp tài sản” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3]. Xét tính chất nghiêm trọng, mức độ phạm tội của bị cáo thấy.

Mặc dù nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng do muốn có tiền tiêu sài nên bị cáo đã cố ý thực hiện chiếm đoạt tài sản của chị S. Hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự xã hội nói chung và huyện P nói riêng, do vậy cần phải có hình phạt xứng đáng với hành vi mà bị cáo đã gây ra.

Khi thực hiện hành vi bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

b) Đã bị kết án về tội này hoặc các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng".

[4].Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã có 04 tiền án về tội trộm cắp tài sản, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn do vậy bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo tính giáo dục, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả điều tra, xác minh cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án:

Vật chứng của vụ án gồm:

01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme Note 50, thân máy màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản thuộc sở hữu của chị Thào Thị S, sinh năm 1995, trú tại thôn K, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn, cơ quan điều tra đã trả lại cho chị S là phù hợp

01 (Một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda Wave BKS 97B1 – 547.28 màu trắng, kết quả điều tra xác định chủ sở hữu là bà Hoàng Thị B, sinh năm 1969 trú tại thôn N, xã N, huyện P, bị cáo Hoàng Nông H sử dụng vào việc phạm tội nhưng bà B không biết, do vậy Cơ quan điều tra Công an huyện P đã trả lại chiếc xe trên cho bà Hoàng Thị B là phù hợp.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Thào Thị S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị B không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Đánh giá về quan điểm truy tố, đề nghị của Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng, quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ. Mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[8] Xem xét, đánh giá hành vi của những người liên quan.

Đối với Hứa Văn B1, ngày 30/7/2024 B1 được cùng H thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên giá trị tài sản bị thiệt hại dưới 2.000.000đ, B1 chưa có tiền án, tiền sự nên hành vi của B1 không cấu thành tội Trộm cắp tài sản, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính đối với B1.

Đối với bà Hoàng Thị B (mẹ ruột của bị can H), là chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 97B1-547.28, khi đi làm bà B thường để xe và chìa khóa ở nhà cho người trong nhà sử dụng để đi lại, ngày 30/7/2024 khi bị cáo H sử dụng chiếc xe vào việc phạm tội thì bà không biết, do vậy không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với Hoàng Văn T2, chủ cơ sở kinh doanh điện thoại, khi B1 mang chiếc điện thoại trộm cắp được đem bán cho anh T2 thì anh thuyết không biết nguồn gốc chiếc điện thoại, việc mua bán chưa hoàn thành, nên không xem xét xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, có hộ khẩu thường trú và chỗ ở thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tuy nhiên bị cáo không có đơn xin miễn án phí. Do vậy bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố bị cáo Hoàng Nông H phạm tội “Trộm cắp tài sản”

[2]. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015.

[3]. Xử phạt bị cáo Hoàng Nông H 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Thào Thị S và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Hoàng Thị B không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về vật chứng: Không có

[6]. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[7]. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhân:

- VKSND huyện Pác Nặm. (01b)

- TAND tỉnh Bắc Kạn. (01b)

- VKSND tỉnh Bắc Kạn. (01b)

- Bộ phận hồ sơ CA huyện Pác Nặm. (03b)

- Chi cục THADS huyện Pác Nặm. (01b)

- Sở Tư pháp. (01b)

- Bị cáo. (01b)

- Bị hại (01b)

- Người có QL,NVLQ. (03b)

- Lưu hs;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Hà Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS - ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Nông Hậu "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger