Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THANH HÓA

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 28/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào

Các hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Hồng Vân
  • 2. Ông Nguyễn Ngọc Dũng

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Tú - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang - Kiểm sát viên

Ngày 28/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Hoàng L - Sinh năm 1993 tại Bà Rịa Vũng Tàu; Quê quán: Khu phố P, phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu; Nơi thường trú: chưa đăng ký thường trú; nơi ở hiện tại: đi lang thang nhiều nơi, không có nơi cư trú; nghề nghiệp: không nghề nghiệp; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: chưa cấp; Con ông: Nguyễn Văn B và bà: Lại Thị T; vợ: chưa; tiền án: Năm 2016, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2021 bị Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, năm 2023 bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong án phạt tù ngày 08/6/2024); tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2024 đến ngày 21/8/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hoá có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Lê Thị M – Sinh năm 1991(có mặt)

Trú tại: S V, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01h30 ngày 15/8/2024, tổ công tác Công an phường Q, thành phố T làm nhiệm vụ tuần tra tại trước số nhà C N, phường Q, thành phố T thì phát hiện Nguyễn Hoàng L đang dắt bộ chiếc xe máy Honda Air Blade màu xám, BKS: 36B1-500.27, có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, Nguyễn Hoàng L khai nhận đã trộm cắp chiếc xe trên, Tổ công tác Công an phường Q đã lập biên bản và đưa L về trụ sở làm việc.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Hoàng L khai nhận: Vào đêm ngày 14/8/2024, sau khi chơi game xong, L đi lang thang trên địa bàn phường Q, thành phố T, với mục đích xem ai sơ hở tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ 30 ngày 15/8/2024, L đi đến trước số nhà B V, P. Q, TP T, phát hiện 01 xe mô tô Honda Arbale BKS 36B1- 500.27, của chị Lê Thị M, sinh năm 1991, trú tại: Số nhà B V, phường Q, thành phố T, để trước nhà không khóa cổ khóa càng, không có người trông coi, L đã lén lút dắt xe đi được khoảng hơn 1 km thì bị tổ công tác Công an phường Q phát hiện. Biết không thể che giấu được nên tại Công an phường Q, L đã khai báo hành vi trộm cắp của mình.

Kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thành phố T, kết luận: 01 (một) xe mô tô Honda Arbale màu đen- xám, BKS: 36B1- 500.27, SK: RLHJF270XBY096549, sản xuất năm 2011, đã qua sử dụng có trị giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Về vật chứng: 01 xe mô tô Honda Arbale BKS 36B1- 500.27, là vật chứng L đã trộm cắp. Cơ quan điều tra, đã ra quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trả lại cho chủ sơ hữu hợp pháp.

Về phần dân sự: Người bị hại chị Lê Thị M không yêu cầu, đề nghị về phần bồi thường dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 318/CT - VKS - TPTH ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thanh Hoá đã truy tố Nguyễn Hoàng L về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa đại diện VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt VKS đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 36 - 42 tháng tù.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại diện VKS.

Bị hại chị Lê Thị M thừa nhận đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm về phần dân sự mà đề nghị Toà án xét xử theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không nói gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, tuy tố, xét xử đã được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Vào đêm ngày 14/8/2024, rạng sáng ngày 15/8/2024 sau khi chơi game xong, Nguyễn Hoàng L đi lang thang trên địa bàn phường Q, thành phố T xem ai sơ hở tài sản để trộm cắp. Đến khoảng 01 giờ 30 ngày 15/8/2024, L đi đến trước số nhà B V, phường Q, thành phố T, phát hiện 01 xe mô tô Honda Arbale BKS 36B1- 500.27 trị giá 6.000.000 đồng của chị Lê Thị M, sinh năm 1991, để trước nhà không khóa cổ khóa càng, không có người trông coi, L đã vào dắt xe đi được khoảng hơn 1 km thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố T phát hiện.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của Nguyễn Hoàng L có đủ các dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã nhiều lần phạm tội Trộm cắp tài sản, chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết định khung “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS như cáo trạng của VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo là đúng.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã lén lút chiếm đoạt một cách nhanh nhất rồi mang đi mục đích bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy tính chất vụ án là nghiêm trọng cần phải xử lý nghiêm minh.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử nhiều lần về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều đó cho thấy bị cáo coi thường pháp luật, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động. Do đó khi quyết định hình phạt cần áp dụng Điều 38 BLHS để cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.

[4] Về phần dân sự: Theo báo cáo của bị hại, tài sản bị cáo chiếm đoạt đã nhận đầy đủ và không yêu cầu gì thêm. Do đó cần công nhận phần dân sự giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

[5] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Hoàng L 36 (ba sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/8/2024.

Về dân sự: Công nhận phần dân sự giữa bị cáo, bị hại đã giải quyết xong.

Án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSNDTPTH;
  • - Công an TPTH;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS TPTH;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Hào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger