|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HSST Ngày: 26/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Tạ Thị Mùa
- Bà Hoàng Thị Thái
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 40/2024/TLST - HS, ngày 14 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 01/01/1990 tại tỉnh Điện Biên; nơi thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Bản Na Há, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Lào; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 05/12; con ông Lò Văn S (Đã chết) và bà Vì Thị P (Đã chết); vợ, con: Chưa có vợ, con.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Có 01 tiền sự, cụ thể: Ngày 21/11/2023, bị Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi "Xâm phạm vào khu vực nhà ở của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản", chưa chấp hành quyết định xử phạt.
Nhân thân: Ngày 16/3/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Ngày 01/8/2016, chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/8/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 31/8/2024, Lò Văn T đi bộ đến khu vực chợ T1 tổ dân phố F, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 gói Heroine, được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng. Mua được ma túy, T cầm trong lòng bàn tay phải đi tìm chỗ sử dụng. Hồi 10 giờ 50 phút cùng ngày, khi T đang đi trên đường dân sinh thuộc tổ dân phố D, phường N, thành phố Đ thì bị tổ công tác Công an phường T phối hợp cùng Công an phường N phát hiện, bắt quả tang. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: 01 gói được gói bằng giấy bạc màu vàng, bên trong có chứa các cục chất bột thể rắn, màu trắng đục nghi là Heroine.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, niêm phong vật chứng nghi là Heroine thu giữ của Lò Văn T, gửi toàn bộ làm mẫu giám định. Tại Bản kết luận giám định số 1367/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng gửi mẫu giám định là 0,15 gam. H lại mẫu sau khi giám định.
Cáo trạng số 200/CT-VKSTPĐBP ngày 12/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ để xét xử bị cáo Lò Văn T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh giấy bạc màu vàng.
2
Về án phí: Áp dụng Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo nhất trí với quyết định truy tố và luận tội của Viện Kiểm sát; không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận về việc giải quyết vụ án.
Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Qua tranh tụng và xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine, mục đích để bản thân sử dụng; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, mở niêm phong, giao nhận đối tượng giám định; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, cụ thể:
Hồi 10 giờ 50 phút ngày 21/8/2024, tại tổ dân phố D, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Lò Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, vì vậy, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[2]. Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp, do bản thân sử dụng ma túy nên đã mua và cất giữ trái phép ma túy để sử dụng, mặc dù nhận thức được tác hại của ma túy cũng như chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với loại tội phạm này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của mình nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm.
[3]. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xử phạt 24 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép
3
chất ma túy", tại Bản án số 57/2015/HSST ngày 16/3/2015. Ngày 01/8/2016, chấp hành xong toàn bộ bản án, đã được xóa án tích. Năm 2023, bị Công an huyện Đ, tỉnh Điện Biên ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi "Xâm phạm vào khu vực nhà ở của người khác nhằm mục đích trộm cắp tài sản", tại Quyết định số 33/QĐ-XPHC ngày 24/11/2023, bị cáo chưa chấp hành quyết định xử phạt. Tại phiên tòa và trong quá trình điều tra thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.
[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...". Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập thấp chỉ đủ mức sinh hoạt tối thiểu; không có tài sản riêng nên không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ trong vụ án: Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine còn lại sau giám định; 01 mảnh giấy bạc màu vàng. Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng.
[6]. Án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác:
Bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ tiền án phí sơ thẩm đối với bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
4
Bị cáo khai mua ma túy của người đàn ông không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ. Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Xử phạt bị cáo Lò Văn T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21 tháng 8 năm 2024.
2. Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,11 gam Heroine, 01 mảnh giấy bạc màu vàng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ.
3. Án phí: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm đối với Lò Văn T.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/11/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Định |
5
- BP. HSNV;
- Cơ quan CSĐTCA thành phố ĐBР;
- Bị cáo;
- Lưu: VP, hồ sơ vụ án;
6
Bản án số 26/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 21/8/2024, tại tổ dân phố D, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Lò Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,15 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
