Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/10/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành và bà Bùi Thị Lành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Bá Thị L, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Chỗ ở hiện nay: 1 M, thành phố I, tỉnh Mie, Green Hill F, Nhật Bản; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Nguyễn Huy K - Công ty L4 và cộng sự, Đoàn Luật sư thành phố H; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • Người được chị Bá Thị L uỷ quyền giao, nhận văn bản tố tụng của Toà án: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Địa chỉ liên lạc: Số D T, phường Y, quận C, Hà Nội; Vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  • * Bị đơn: Anh Trần Chí L1, sinh năm 1988. Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị T, sinh năm 1957; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai và trình bày tại phiên toà của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:

Chị Bá Thị L, sinh năm 1991 và anh Trần Chí L1, sinh năm 1988 đều có hộ khẩu thường trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Chị L và anh L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 28/02/2020 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (như đơn của chị L trình bày và trích lục kết hôn nộp cho Toà án), được gia đình tổ chức cưới, hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị L, anh L1 sống chung với gia đình nhà chồng (gia đình bà Lê Thị T, sinh năm 1957) tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, bảo ban nhau làm ăn. Sau khoảng hơn 01 năm thì vợ chồng mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, lối sống. Anh L2 nghi ngờ chị L có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác nên vợ chồng cãi, chửi nhau. Khoảng tháng 3 năm 2021 vợ chồng xẩy ra xô sát, chị L bỏ nhà đi và đi khỏi địa phương. Năm 2022 chị Bá Thị L đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đến nay chưa về địa phương. Tháng 3 năm 2023, anh Trần Chí L1 vi phạm pháp luật bị bắt và bị xét xử và phải đi chấp hành án tại Trại giam N thuộc xã T, huyện K, tỉnh Hà Nam. Từ khi chị L1 đi nước ngoài, vợ chồng sống ly thân, ít liên lạc với nhau, không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Chị Bá Thị L xác định tình cảm không còn, mẫu thuẫn vợ chồng trầm trọng, không thể hoà hợp, hàn gắn nên đề nghị ly hôn với anh Trần Chí L1.

Về con chung: Chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 có 01 con chung là cháu Trần Hà M, sinh ngày 04/10/2018. Sau khi chị L đi khỏi địa phương cháu M được bố là anh Trần Chí L1 và bà nội là bà Lê Thị T chăm sóc nuôi dưỡng, thời gian anh L1 vi phạm pháp luật và đi thi hành án tại Trại giam thì cháu Trần Hà M được bà Lê Thị T, nuôi dưỡng, chăm sóc. Hiện cháu Trần Hà M đang học lớp 1, Trường tiểu học T2, huyện T, cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Tại đơn xin ly hôn, chị Bá Thị L đề nghị Toà án giao cháu Trần Hà M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian chị ở nước ngoài, chị L uỷ quyền cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc cháu, chị không đề nghị anh Trần Chí L1 phải cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con trong vụ án.

Về tài sản, công sức đóng góp, nợ chung, nghĩa vụ chung: Không có nên chị không đề nghị Toà án giải quyết. Án phí ly hôn: Chị Bá Thị L tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Anh Trần Chí L1 tại Bản tự khai, Biên bản lời khai và tại phiên toàxác nhận về quan hệ hôn nhân giữa anh và chị Bá Thị L như lời chị L trình bày, tuy nhiên theo anh lý do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn là do anh phát hiện chị L ngoại tình, anh đã khuyên bảo nhưng chị L không thay đổi dẫn đến vợ chồng ly thân, không còn quan tâm đến nhau, sau đó chị L đi nước ngoài và anh vi phạm pháp luật nên phải đi cải tạo. Về con chung và về tài sản, công sức đóng góp, nợ chung, nghĩa vụ chung anh cũng thống nhất như lời khai của chị L, tuy nhiên do hiện nay anh đã chấp hành xong hình phạt, trở về địa phương trong khi chị Bá Thị L vẫn đang ở nước ngoài nên về con chung, anh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hà M và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí ly hôn, tại phiên toà, anh L3 đồng ý chị L tự nguyện nộp toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

Bà Trần Thị T1 (bà nội cháu M) xác nhận cháu Trần Hà M hiện đang ở với bà, do bà chăm sóc (thời gian anh L1 đang chấp hành án tại Trại giam, bà thay anh L1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M). Từ khi chị L bỏ đi đến nay có gửi khoảng 4 lần tổng là 20 triệu đồng cho bà để phụ nuôi cháu M. Hiện nay chị L đang ở nước ngoài, không biết khi nào về Việt Nam nên bà đề nghị Toà án giao cháu M cho bố cháu là anh Trần Chí L1 nuôi dưỡng. Bà không đề nghị anh L1, chị L thanh toán số tiền bà đã bỏ ra để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M từ khi chị L bỏ đi, sau đó anh L1 vi phạm pháp luật bị bắt và đi chấp hành án cho đến thời điểm hiện nay.

Luật sư Nguyễn Huy K là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Bá Thị L (vắng mặt tại phiên toà) nhưng tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt (ngày 17/10/2024) có quan điểm: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Đại diện UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam tại buổi làm việc với Toà án ngày 11/10/2024 có quan điểm: Về quan hệ hôn nhân của chị L và anh L1 như anh chị đã trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống với mẹ anh L1 (bà Lê Thị T) tại thôn T, xã T, huyện T. Đến năm 2021 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, về mâu thuẫn vợ chồng cụ thể thế nào thì chính quyền địa phương không nắm được, nhưng nghe dư luận thì do chị L có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác cùng thôn, anh L1 biết dù không bắt được trực tiếp. Khoảng tháng 3 năm 2021, vợ chồng xẩy ra xô sát, chị L bỏ nhà đi khỏi địa phương.

Năm 2022 chị L đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản đến nay chưa về địa phương. Tháng 3 năm 2023, anh L1 vi phạm pháp luật bị bắt và bị xét xử, hiện đang chấp hành án tại Trại giam N. Chị Bá Thị L có yêu cầu ly hôn với anh Trần Chí L1, đề nghị Tòa án căn cứ quy định pháp luật để giải quyết. Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Hà M, sinh ngày 04/10/2018. Sau khi chị L bỏ đi khỏi địa phương cháu M được bố là anh Trần Chí L1 và bà nội là bà Lê Thị T chăm sóc nuôi dưỡng, đến khi anh L1 vi phạm pháp luật, bị bắt giam và đi thi hành án thì cháu Trần Hà M được bà Lê Thị T, nuôi dưỡng, chăm sóc. Hiện cháu Trần Hà M đang học lớp 1, Trường tiểu học T2, huyện T, cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Về con chung của vợ chồng đề nghị Tòa án căn cứ vào điều kiện nuôi con của các bên và quy định của pháp luật để giải quyết, đảm bảo quyền lợi cho cháu.

* Quá trình giải quyết vụ án, chị Bá Thị L có đơn đề nghị không lựa chọn giải quyết vụ án theo Luật Hòa giải đối thoại tại Tòa án nên Tòa án không tiến hành thủ tục này theo đề nghị của đương sự. Chị L, anh L1, bà T có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hoà giải nên Toà án không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, công khai chứng cứ, hoà giải và lập biên bản không tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hòa giải được.

* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và nguyên đơn thực hiện đầy đủ, bị đơn thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1. Về con chung: Giao cháu Trần Hà M, sinh ngày 04/10/2018 cho anh Trần Chí L1 nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi; chị Bá Thị L không phải góp phí tổn nuôi con chung. Án phí ly hôn sơ thẩm chị L, anh L1 mỗi đương sự phải nộp 75.000 đồng, chấp nhận sự tự nguyện nộp toàn bộ án phí của chị L, đối trừ tạm ứng án phí, chị L được nhận lại số tiền 150.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nhận thấy:

[1] Về thẩm quyền: Chị Bá Thị L đang ở Nhật Bản có địa chỉ cụ thể, có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp và uỷ quyền việc giao, nhận văn bản tố tụng của Toà án. Luật sư nộp đơn khởi kiện, các tài liệu và tham gia tố tụng tại Toà án để giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh Trần Chí L1. Yêu cầu khởi kiện của chị Bá Thị L là tranh chấp hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. [2] Về tố tụng: Anh Trần Chí L1 và bà Lê Thị T có mặt, chị Bá Thị L vắng mặt (do đang ở nước ngoài, có đơn đề nghị vắng mặt và uỷ quyền nhận các thủ tục giấy tờ của Toà án cho người khác, có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp vắng mặt (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, ý kiến của nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, bị đơn, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật. [3] Đối với việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 kết hôn tự nguyện, được cấp Giấy đăng ký kết hôn ngày 28/02/2020 tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam nên là hôn nhân hợp pháp. Căn cứ trình bày của chị L, anh L1 và tài liệu hồ sơ xác định giữa chị L và anh L1 sau khi kết hôn phát sinh mâu thuẫn do không hoà hợp, vợ chồng bất đồng do anh L1 nghi ngờ chị L không chung thuỷ; chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân nhiều năm không còn quan tâm đến nhau, sau đó anh L1 vi phạm pháp luật và bị đi chấp hành án tại Trại giam, chị L đi lao động tại Nhật Bản đến nay chưa về Việt Nam, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị L tại đơn khởi kiện, Bản tự khai quyết xin ly hôn anh Trần Chí L1. Anh Trần Chí L1 tại phiên toà xác nhận vợ chồng mâu thuẫn không thể hàn gắn nên đồng ý ly hôn với chị L, do vậy xử công nhận thuận tình ly hôn giữa chị L và anh L1 là phù hợp pháp luật.

Về con chung: Đối với cháu Trần Hà M, sinh ngày 04/10/2018, sau khi chị L bỏ đi khỏi địa phương, cháu M được anh Trần Chí L1 và bà nội là bà Lê Thị T chăm sóc nuôi dưỡng; thời gian anh L1 đi thi hành án tại Trại giam thì cháu Trần Hà M được bà Lê Thị T nuôi dưỡng, chăm sóc. Hiện cháu Trần Hà M đang học lớp 1, Trường tiểu học T2, huyện T, cháu khoẻ mạnh, phát triển bình thường. Tại đơn xin ly hôn, chị Bá Thị L đề nghị Toà án giao cháu Trần Hà M cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian chị ở nước ngoài, chị uỷ quyền cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc cháu. Anh Trần Chí L1 tại Bản tự khai và tại phiên toà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Trần Hà M, không yêu cầu chị L góp phí tổn nuôi con. Bà Lê Thị T đề nghị Toà án giao cháu Trần Hà M cho anh Trần Chí L1, bà sẽ hỗ trợ anh L1 trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Hà M.

Chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 đều đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hà M là chính đáng, tuy nhiên do điều kiện hiện chị L đang ở nước ngoài, chưa xác định được thời gian trở về Việt Nam nên không có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trần Hà M. Hiện anh Trần Chí L1 đã chấp hành xong hình phạt tù, trở về địa phương, cháu Trần Hà M đã ở với anh Trần Chí L1 và sau này là bà Lê Thị T trong thời gian dài, ổn định, phát triển khoẻ mạnh. Để không làm xáo trộn cuộc sống, tâm lý của cháu, cần giao cháu Trần Hà M cho anh Trần Chí L1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, chị Bá Thị L không phải góp phí tổn nuôi con theo yêu cầu của anh Trần Chí L1.

Về tài sản chung, riêng, công nợ và các vấn đề khác: Chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 xác nhận vợ chồng không có, không đề nghị nên Toà án không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 phải chịu 50% án phí. Chị Bá Thị L tự nguyện nộp toàn bộ án phí, được đối trừ tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 48, Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 254, Điều 266, Điều 271, Điều 273, Điều 469 và Điều 476, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1.
  2. Về con chung: Giao cháu Trần Hà M, sinh ngày 04/10/2018 cho anh Trần Chí L1 trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Bá Thị L không phải góp phí tổn nuôi con chung theo đề nghị của anh L1. Chị Bá Thị L được quyền thăm hỏi, chăm sóc, giáo dục con chung. Anh Trần Chí L1 và gia đình không được cản trở việc chị Bá Thị L thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ và các vấn đề khác: chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 không đề nghị nên Toà án không đặt ra giải quyết.
  4. Án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Bá Thị L và anh Trần Chí L1 mỗi người phải nộp 75.000 đồng, chị Bá Thị L tự nguyện nộp toàn bộ án phí (nộp thay cho anh Trần Chí L1) số tiền án phí là 150.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí chị Bá Thị L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001478 ngày 02/7/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hà Nam được đối trừ khi thi hành án, chị L được nhận lại 150.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, anh Trần Chí L1 và bà Lê Thị T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; chị Bá Thị L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Viện KSND tỉnh Hà Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Nam;
  • - UBND xã Thanh Thuỷ, H. Thanh Liêm;
  • - Lưu hồ sơ, Tòa DS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Mạnh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Bá Thị L hiện đang ở Nhật Bản xin được ly hôn với anh Trân Chí L1 do vợ chồng mâu thuẫn, không có tiếng nói chung, chị L đi lao động tại Nhật Bản từ năm 2021 đến nay không về Việt Nam, vợ chồng ly thân, không quan tâm đến nhau, nay xác định tình cảm không còn xin ly hôn. Anh Trần Chí L cũng đồng ý ly hôn với chị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger