Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TỪ SƠN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/9/2024

V/v “ Tranh chấp về hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có;

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đức Hùng và ông Nguyễn Đăng Thúy.

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Đại diện VKSND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29, 30/9/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án ly hôn thụ lý số: 32/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/8/2024 giữa các đương sự;

Nguyên đơn: Chị Quách Thị Bắc, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Chí Dưỡng – Luật sư công ty Luật TNHH Dân Trí – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; (có mặt)

Địa chỉ: Số 08 Kinh Dương Vương, phường Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;

Bị đơn: Anh Đinh Văn Tài, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Phan Văn Thưởng – Luật sư văn phòng Luật sư Đồng Nguyên và Cộng Sự – Đoàn luật sư tỉnh Bắc Ninh; (có mặt)

Địa chỉ: Số 500 Minh Khai, phường Đồng Nguyên, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đinh Văn Long, sinh năm 1952;
  2. Bà Lưu Thị Phụng, sinh năm 1952;
  3. Anh Đinh Văn Lâm, sinh năm 1974;
  4. Chị Đinh Thị Hà, sinh năm 1977;
  5. Anh Đinh Văn Phát, sinh năm 1983;
  6. Chị Phạm Thị Minh Khánh, sinh năm 1983.

Cùng địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Long, bà Phụng, anh Lâm, chị Hà, anh Phát, chị Khánh: Ông Nguyễn Thanh Bình, sinh năm 1957; (có mặt)

Địa chỉ: Nguyễn Công Hãng, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

7. Ngân hàng chính sách xã hội;

Địa chỉ: Số 169 Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết Thắng – Tổng giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Trọng Tuấn – Giám đốc PGD NHCSXH thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Nguyễn Thị Toàn – Phó Giám đốc PGD NHCSXH thành phố Từ Sơn; (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Đường Lý Thái Tổ, phường Đông Ngàn, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2023 và trong quá trình xét xử nguyên đơn là chị Quách Thị Bắc, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Bắc thống nhất trình bày thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị Bắc và anh Đinh Văn Tài kết hôn ngày 13/3/2006, trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu sau đó cùng nhau đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phù Khê (Nay là phường Phù Khê). Sau khi kết hôn, vợ chồng chị có về chung sống với nhau luôn tại gia đình nhà chồng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc từ khi kết hôn đến khoảng tháng 6/2021 vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Nguyên nhân mẫu thuẫn là vợ chồng không hiểu nhau, thường xuyên cãi nhau, ngoài ra anh Tài còn nghi ngờ chị Bắc ngoại tình với người đàn ông khác. Đến ngày 03 tháng 7 năm 2022 chị Bắc đã chuyển về ở cùng bố mẹ đẻ chị, vợ chồng chị sống ly thân từ đó cho đến nay. (Tháng 10/2023, anh Tài dã làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn đề nghị ly hôn với chị Bắc, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn đã thụ lý yêu cầu của anh Tài, nhưng anh Tài đã rút đơn khởi kiện nên Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn đã ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án). Vợ chồng chị vẫn không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn ngày càng lớn hơn. Nay chị Bắc thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được với nhau nữa. Do vậy, chị Bắc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn xem xét cho chị được ly hôn anh Đinh Văn Tài.

Về con chung: Vợ chồng chị có 03 con chung tên các cháu là Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006; Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010 và Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013. Hiện nay cả 03 cháu đang sinh sống cùng anh Tài. Ly hôn chị Bắc đề nghị được nuôi cháu Đinh Bảo Thi đề nghị anh Tài tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đinh Ngọc Diệp và cháu Đinh Minh Trí. Chi phí cấp dưỡng nuôi con chung chị Bắc không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay chị Bắc làm nghề tự do, thu nhập 10.000.000 đồng/01 tháng, không có tài liệu chứng minh thu nhập. Do vậy, chị đủ điều kiện để nuôi con.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chị Bắc, anh Tài sinh sống tại nhà chồng, đến năm 2009 vợ chồng chị Bắc, anh Tài có mua thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² địa chỉ: Thôn Phù Khê Thượng, xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn (nay là khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh do ủy ban nhân dân thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL077212 ngày 13/9/2012 cho ông Đinh Văn Tài, bà Quách Thị Bắc. Nguồn gốc thửa đất trên là do vợ chồng chị Bắc mua vào năm 2009 và nhờ mẹ chồng chị là bà Lưu Thị Phụng đứng tên giấy chứng nhận QSD đất năm 2011, đến năm 2012 bố mẹ chồng chị Bắc đã làm hợp đồng tặng cho vợ chồng chị Bắc thửa đất trên.

Quá trình sử dụng đất năm 2009 vợ chồng chị Bắc, anh Tài có xây dựng 01 ngôi nhà 2,5 tầng cụ thể: Diện tích xây dựng tầng 01 là 98m²; diện tích xây dựng tầng 02 là 103m²; diện tích xây dựng tầng lệch là 33,5m². Tổng diện tích xây dựng là 234,5m². Hiện nay tài sản này do anh Tài trực tiếp quản lý.

Ngoài ra tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Bắc và anh Tài gồm 01: Chị Bắc xác định vợ chồng chị có tài sản chung gồm:

Các tài sản là đồ dùng sinh hoạt trong gia đình gồm: 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.9m); 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.8m); 01 kệ tivi gỗ hương lào (KT 2,05 x 0,56 x 0,69m); 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào (KT 2,08 x 0,59 x 2,2m); Vài khối gỗ hương thanh;

Chị Bắc và anh Tài đã thỏa thuận giải quyết xong vài khối gỗ hương dạng thanh, chị Bắc và anh Tài không yêu cầu Tòa án giải quyết chỗ gỗ này.

Chị Bắc đề nghị được hưởng ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng chị. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, trường hợp anh Tài được hưởng bằng hiện vật, anh Tài có nghĩa vụ trích trả chị Bắc bằng tiền, trường hợp chị Bắc được hưởng bằng hiện vật, chị Bắc sẽ có trách nhiệm trích trả anh Tài bằng tiền.

Về công nợ: Vợ chồng chị Bắc có vay ngân hàng chính sách 70.000.000 đồng. Chị Bắc đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trong các lời khai tại Tòa án, bị đơn là anh Đinh Văn Tài và người bảo vệ quyền và nghĩa vụ của anh Tài về phần tài sản thống nhất trình bày:

Anh Tài công nhận lời trình bày của chị Bắc về thời điểm kết hôn, tình trạng hôn nhân là đúng. Giữa chị Bắc và anh Tài có nhiều mâu thuẫn, hay cãi nhau. Chị Bắc đi ngoại tình và vợ chồng anh sống ly thân từ thời điểm như chị Bắc trình bày là đúng, không ai quan tâm đến ai trong cuộc sống. Chị Bắc xin ly hôn, anh Tài thấy hiện tình cảm vợ chồng không còn, anh đồng ý ly hôn.

Về con chung như chị Bắc trình bày là đúng. Hiện nay cả 03 cháu đang sinh sống cùng anh Tài. Ly hôn anh Tài đồng ý để chị Bắc trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Bảo Thi, anh Tài có trách nhiệm tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đinh Ngọc Diệp và cháu Đinh Minh Trí. Chi phí cấp dưỡng nuôi con chung anh không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung: Anh Tài công nhận vợ chồng anh có tài sản chung gồm đồ dùng sinh hoạt trong gia đình như chị Bắc trình bày là đúng gồm: 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.9m); 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.8m); 01 kệ tivi gỗ hương lào (KT 2,05 x 0,56 x 0,69m); 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào (KT 2,08 x 0,59 x 2,2m); Vài khối gỗ hương thanh;

Vài khối gỗ hương dạng thanh gỗ vợ chồng anh Tài đã giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản đồ dùng sinh hoạt trong gia đình anh Tài đề nghị chia ½ bằng hiện vật, cả hai đều hưởng bằng hiện vật. Tuy nhiên, do 03 con đều có nguyện vọng sinh sống cùng anh Tài. Vì vậy, đề nghị đồ dùng sinh hoạt bằng gỗ phần của anh Tài để lại cho con, phần chị Bắc được hưởng giữ lại để thực hiện nghĩa vụ trả công nợ hai vợ chồng cho ngân hàng chính sách.

Ngoài ra, về tài sản anh Tài trình bày là toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng cụ thể: Diện tích xây dựng tầng 01 là 98m²; diện tích xây dựng tầng 02 là 103m²; diện tích xây dựng tầng lệch là 33,5m². Tổng diện tích xây dựng là 234,5m². Nguồn gốc thửa đất trên là của bố mẹ đẻ anh Tài là ông Đinh Văn Long và bà Lưu Thị Phụng. Ngày 29/6/2012 bố mẹ đẻ anh Tài đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Tài. Anh Tài xác định chữ ký trong hợp đồng tặng cho đúng chữ ký của bố mẹ đẻ anh và vợ chồng anh. Vợ chồng anh Tài có nói và làm giấy nếu bố mẹ tặng cho vợ chồng anh quyền sử dụng đất thì vợ chồng anh sẽ chăm sóc, nuôi dưỡng bố mẹ đẻ anh đến khi về già. Vợ chồng anh Tài đã được Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối với thửa đất trên và hiện nay anh Tài đang sinh sống cùng 03 con tại thửa đất trên. Anh Tài xác định đây không phải là tài sản chung của vợ chồng anh Tài, chị Bắc mà là tài sản của bố, mẹ anh. Nay chị Bắc đề nghị chia tài sản đối với thửa đất và ngôi nhà trên đất trên, anh Tài không đồng ý. Chị Bắc được hưởng theo đúng công sức đóng góp của mình. Từ khi chị Bắc về làm dâu, chị Bắc thường xuyên đau ốm, không có công việc gì, kinh tế trong gia đình do một mình anh Tài lo toan.

Về công nợ: Vợ chồng anh Tài có vay ngân hàng chính sách 70.000.000 đồng. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, chị Bắc phải có trách nhiệm trả ½ công nợ là 35.000.000 đồng, về nghĩa vụ trả nợ của anh Tài, do hoàn cảnh khó khăn, một mình anh nuôi 03 con chung vì vậy, đề nghị Ngân hàng chính sách xã hội tiếp tục cho anh Tài được vay số tiền 35.000.000 đồng đến khi hết thời hạn.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Đinh Văn Long, bà Lưu Thị Phụng, anh Đinh Văn Lâm, chị Đinh Thị Hà, anh Đinh Văn Phát, chị Phạm Thị Minh Khánh và đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Thanh Bình tại phiên tòa thống nhất ông Bình trình bày:

Tại buổi làm lấy lời khai ngày 02/01/2024 tại Tòa án, vợ chồng ông Long xác định là tặng cho vợ chồng anh Tài, chị Bắc toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản xây dựng trên đất. Tuy nhiên, nguồn gốc thửa đất trên là của hộ gia đình. Năm 2009 chính quyền địa phương UBND thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn) có xét và quyết định cấp thửa đất trên là cấp cho hộ gia đình có nhiều cặp vợ chồng sinh sống, không phải cấp cho cá nhân vợ chồng ông Long, bà Phụng. Thời điểm được cấp hộ bà Phụng gồm vợ chồng ông Long, bà Phụng; vợ chồng anh Đinh Văn Lâm chị Đinh Thị Hà, vợ chồng anh Đinh Văn Tài, chị Quách Thị Bắc, vợ chồng anh Đinh Văn Phát chị Phạm Thị Minh Khánh sinh sống cùng nhau và có hộ khẩu thường trú tại Phù Khê, trừ ông Đinh Văn Long có hộ khẩu thường trú tại Hà Nội, nhưng ông Long vẫn đi lại giữa Hà Nội và Phù Khê, vẫn tham gia các hội của địa phương và đóng góp các yêu cầu của địa phương. Vì vậy, xác định nguồn gốc thửa đất trên là của hộ gia đình, không phải cá nhân bà Phụng. Về ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng trên đất, xác định là do ông Long, bà Phụng xây dựng, số tiền xây dựng ngôi nhà trên là của vợ chồng ông bà, không liên quan đến các con. Năm 2012 ông Long, bà Phụng đã tặng cho vợ chồng anh Tài, chị Bắc quyền sử dụng đất, xác định không tặng cho ngôi nhà xây dựng trên đất.

Vì vậy, ông Long, bà Phụng đã làm đơn yêu cầu độc lập. Yêu cầu Tòa án bác yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của chị Bắc là thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng. Đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Tài, chị Bắc. Đề nghị đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Lưu Thị Phụng thành hộ gia đình bà Lưu Thị Phụng; Hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Long, bà Phụng với anh Tài, chị Bắc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng chính sách xã hội đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Toàn trình bày: Chị Quách Thị Bắc có đại diện hộ gia đình đứng lên vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội thành phố Từ Sơn vay tổng các khoản cụ thể:

Ngày 18/12/2019 vay tổng số tiền gốc là 50.000.000 đồng, lãi suất 7,92%/năm, thời hạn vay là 59 tháng, hạn trả nợ ngày 18/11/2024; theo chương trình vay hộ cận nghèo

Ngày 18/12/2022 vay tổng số tiền gốc là 20.000.000 đồng; lãi suất là 1,2%/năm; thời hạn vay là 34 tháng, hạn trả nợ là ngày 18/10/2025; Theo chương trình vay học sinh sinh viên mua máy tính.

Tài sản đảm bảo cho khoản vay là không có (cho vay ủy thác qua hội nông dân khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn).

Nay chị Bắc, anh Tài đang giải quyết ly hôn tại Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, ngân hàng chính sách đã đề nghị yêu cầu độc lập đề nghị tòa án buộc hộ chị Bắc, anh Tài phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng chính sách. Tổng số tiền phải trả tính đến ngày 29/9/2024 là 70.092.000 đồng trong đó tổng nợ gốc là 70.000.000 đồng; nợ lãi là 92.000 đồng.

Về yêu cầu của anh Tài đề nghị Ngân hàng chính sách xã hội thành phố Từ Sơn tiếp tục cho anh thực hiện hợp đồng vay đối với khoản vay mà anh cần phải trả. Phía ngân hàng không chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải vụ án theo đúng quy định của pháp luật nhưng không hòa giải được, vì vậy Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, chị Bắc vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh Tài.

Về con chung, vợ chồng chị có 03 con chung tên các cháu là Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006; Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010 và Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013. Hiện nay cả 03 cháu đang sinh sống cùng anh Tài. Ly hôn chị Bắc đề nghị được nuôi cháu Đinh Bảo Thi còn anh Tài tiếp tục nuôi dưỡng cháu Đinh Ngọc Diệp và cháu Đinh Minh Trí. Chi phí cấp dưỡng nuôi con chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, chị Bắc xác định vợ chồng có tài sản chung là: 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.9m); 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.8m); 01 kệ tivi gỗ hương lào (KT 2,05 x 0,56 x 0,69m); 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào (KT 2,08 x 0,59 x 2,2m); Quyền sử dụng thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh.

Chị Bắc đề nghị được hưởng ½ giá trị tài sản chung của vợ chồng chị. Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật, trường hợp anh Tài được hưởng bằng hiện vật, anh Tài có nghĩa vụ trích trả chị Bắc bằng tiền, trường hợp chị Bắc được hưởng bằng hiện vật, chị Bắc sẽ có trách nhiệm trích trả anh Tài bằng tiền.

Về công nợ: Chị Bắc xác định vợ chồng có vay Ngân hàng chính sách Từ Sơn số tiền 70.000.000 đồng, chị Bắc xác nhận có nghĩa vụ thanh toán ½ khoản nợ, đề nghị anh Tài có nghĩa vụ thanh toán ½ nghĩa vụ trả nợ.

Về chi phí thẩm định, định giá: Chị Bắc tự nguyện chịu, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Tài đồng ý ly hôn với chị Bắc. Về con chung, anh Tài xác định vợ chồng anh có 03 con chung. Khi ly hôn anh Tài không đồng ý để chị Bắc trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010, anh Tài đề nghị tiếp nuôi dưỡng cháu Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006; cháu Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010 và cháu Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013. Vấn đề cấp dưỡng anh Tài không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Tài xác định tài sản chung vợ chồng là đồ dùng gỗ như chị Bắc trình bày là đúng, anh Tài đề nghị Tòa án chia ½ và anh được hưởng bằng hiện vật, tuy nhiên, do 03 con chung đều có nguyện vọng được ở với anh Tài, vì vậy phần hiện vật anh Tài được hưởng đề nghị các con tiếp tục sử dụng, phần tài sản chị Bắc được hưởng đề nghị giữ lại để thanh toán công nợ chung của vợ chồng tại ngân hàng chính sách xã hội Từ Sơn.

Về tài sản chung là thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh, xác định là của hộ gia đình, không phải là tài sản chung của vợ chồng, vì vậy, anh Tài đề nghị Tòa án bác yêu cầu chia tài sản chung này của chị Bắc.

Về công nợ: Xác nhận chị Bắc trình bày về khoản nợ 70.000.000 đồng tiền gốc là đúng, anh Tài đồng ý thanh toán ½ khoản nợ này là số tiền 35.000.000 đồng đề nghị ngân hàng chính sách tiếp tục cho anh Tài vay cho đến khi hết thời hạn.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là luật sư Nguyễn Chí Dưỡng phát biểu khi tranh luận như sau: Qua tài liệu chứng cứ do nguyên đơn giao nộp, lời khai của bị đơn là anh Tài và bố mẹ anh Tài có đủ căn cứ xác định thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh và các tài sản đồ dùng như yêu cầu của hai bên là tài sản chung của vợ chồng chị Bắc, anh Tài. Do vậy, đề nghị HĐXX trích chia cho vợ chồng mỗi người được hưởng ½ tài sản chung, đề nghị giải quyết cho chị Bắc được hưởng bằng hiện vật và chị Bắc trích trả cho anh Tài theo quy định của pháp luật. Về công nợ đề nghị chị Bắc, anh Tài mỗi người chịu ½ công nợ chung của vợ chồng.

Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là luật sư Phan Văn Thưởng phát biểu khi tranh luận như sau: Đồng ý với lời trình bày của bị đơn về vấn đề tài sản chung và công nợ.

Hợp đồng tặng cho Quyền sử dụng đất giữa ông Long, bà Phụng với chị Bắc, anh Tài đã vi phạm nghiêm trọng, vì nguyên nhân là ông Long, bà Phụng không có quyền đại diện cho hộ gia đình và không thể tự quyết về tài sản của hộ gia đình để tặng cho chị Bắc, anh Tài.

Do vậy; Xác định nguồn gốc thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh là của hộ gia đình bà Lưu Thị Phụng, không phải của cá nhân bà Phụng, vì vậy đề nghị Tòa án bác yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất trên và ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng trên thửa đất. Đề nghị HĐXX bác yêu cầu nhận nuôi con của chị Bắc đề nghị nuôi cháu Đinh Bảo Thi. Đề nghị hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Long, bà Phụng với chị Bắc, anh Tài. Đề nghị công nhận Quyền sử dụng đất là thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh là của hộ gia đình bà Lưu Thị Phụng. Kiến nghị UBND thành phố Từ Sơn đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Lưu Thị Phụng sang hộ bà Lưu Thị Phụng. Đề nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh đã cấp cho chị Bắc, anh Tài.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đinh Văn Long, bà Lưu Thị Phụng, anh Đinh Văn Lâm, chị Đinh Thị Hà, anh Đinh Văn Phát, chị Phạm Thị Minh Khánh ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh Bình giữ nguyên quan điểm: Xác định tài sản là thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và tài sản gắn liền với thửa đất tại Phù Khê Thượng, Phù Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh là của hộ gia đình, không phải cá nhân bà Phụng, xác định thửa đất trên không phải tài sản chung của vợ chồng anh Tài, chị Bắc. Vì vậy đề nghị hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện này của chị Bắc. Đề nghị hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng giữa ông Long, bà Phụng và anh Tài, chị Bắc. Đề nghị đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Lưu Thị Phụng thành hộ bà Lưu Thị Phụng; Đề nghị thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Tài, chị Bắc.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ngân hàng chính sách xã hội có yêu cầu độc lập: Đề nghị Tòa án buộc hộ gia đình chị Quách Thị Bắc, anh Đinh Văn Tài phải có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng chính sách tổng số tiền tính đến ngày 29/9/2024 là 70.092.000 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và thành lập hội đồng định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Hội đồng định giá tài sản và căn cứ bản trích đo hiện trạng thửa đất và tài sản trên đất của công ty TNHH tư vấn dịch vụ kỹ thuật tài nguyên và môi trường Bắc Ninh đã kết luận giá trị tài sản tranh chấp trong vụ án như sau:

- 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.9m) trị giá 17.000.000 đồng;

- 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.8m) trị giá 15.000.000 đồng;

- 01 kệ tivi gỗ hương lào (KT 2,05 x 0,56 x 0,69m) trị giá 9.000.000 đồng

- 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào (KT 2,08 x 0,59 x 2,2m) trị giá 40.000.000 đồng;

- 01 m² đất tại thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² địa chỉ: Thôn Phù Khê Thượng, xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn (nay là khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh có giá 26.500.000 đồng. Giá trị quyền sử dụng đất là 101,3m² x 26.500.000 đồng = 2.684.450.000 đồng.

- 01 ngôi nhà 2,5 tầng cụ thể: Diện tích xây dựng tầng 01 là 98m² x 2.800.000 đồng = 274.400.000 đồng; diện tích xây dựng tầng 02 là 103m² x 1.740.000 đồng = 179.220.000 đồng; diện tích xây dựng tầng lệch là 33,5m² x 2.800.000 đồng = 93.800.000 đồng. Tổng diện tích xây dựng là 234,5m². Tổng giá trị tài sản trên đất là: 547.420.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng chị Bắc anh Tài là: 3.312.870.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 58, 147, 232, 235, 262, 271, 273 BLTTDS.

Các Điều 33, 51, 53, 56, 59, 62, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Án lệ số 03/2026/AL ngày 06/4/2016 của Toà án nhân dân tối cao. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Quách Thị Bắc. Chấp nhận yêu cầu độc lập của người liên quan là Ngân hàng chính sách xã hội. Bác yêu cầu độc lập của người liên quan gồm ông Đinh Văn Long, bà Lưu Thị Phụng, anh Đinh Văn Lâm, chị Đinh Thị Hà, anh Đinh Văn Phát, chị Phạm Thị Minh Khánh.

Về quan hệ hôn nhân: công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Quách Thị Bắc và anh Đinh Văn Tài.

Về con chung: anh chị có 03 con chung là các cháu Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006; cháu Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010; cháu Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013. Giao chị Bắc trực tiếp nuôi dưỡng cháu Thi, anh Tài trực tiếp nuôi dưỡng các cháu Diệp và cháu Trí. Về cấp dưỡng nuôi con, anh chị không yêu cầu giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom con chung mà không ai được cản trở, ngăn cản.

Về tài sản chung: Xác nhận tài sản chung của vợ chồng anh Tài, chị Bắc gồm có: Thửa đất số 69, tờ bản đồ số 26, diện tích 101,3m², địa chỉ tại thôn Thượng, xã Phù Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (nay là khu phố Phù Khê Thượng, phương Phù Khê, thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh đã được UBND thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Tài, chị Bắc ngày 13/9/2012, số cấp giấy chứng nhận CH01014. Tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng năm 2009. Tài sản khác dùng trong sinh hoạt gia đình gồm: 02 giường gỗ hương, 01 tủ 04 cánh gỗ hương và 01 kệ tivi gỗ hương. Tổng giá trị tài sản chung là 3.312.870.000 đồng.

Đối với tài sản chung là thửa đất số 69 và ngôi nhà trên đất cần chia cho anh Tài với tỷ lệ là 60%, chị Bắc là 40%. Tổng giá trị quyền sử dụng đất và ngôi nhà xây dựng trên đất là 3.231.870.000 đồng. Anh Tài được nhận 60% tương ứng với số tiền là 1.939.122.000 đồng; chị Bắc được nhận 40% tương ứng số tiền là 1.292.748.000 đồng.

Đối với tài sản chung là các đồ dùng trong sinh hoạt gia đình gồm 02 giường gỗ hương lào, 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào và 01 kệ tivi gỗ hương lào cần chia theo tỷ lệ anh Tài 50% và chị Bắc 50%. Tổng giá trị 02 giường gỗ hương lào, 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào và 01 kệ tivi gỗ hương lào là 81.000.000 đồng. Anh Bắc, chị Tài mỗi người được 1/2 giá trị tương ứng là 40.500.000 đồng.

Giao cho anh Tài quản lý, sử dụng thửa đất số 69 và tài sản trên đất có 01 ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng năm 2009; 02 giường gỗ hương, 01 tủ 04 cánh gỗ hương và 01 kệ tivi gỗ hương.

Anh Tài có trách nhiệm trích trả chị Bắc số tiền chênh lệch là 1.292.748.000 đồng + 40.500.000 đồng = 1.333.248.000 đồng.

Về công nợ: anh Tài, chị Bắc mỗi người có trách nhiệm trả ½ khoản nợ Ngân hàng chính sách xã hội tương ứng là 35.046.000 đồng.

Đình chỉ yêu cầu của chị Bắc về việc chia các thanh gỗ hương.

Về án phí, chi phí thẩm định, định giá tài sản: Chị Bắc phải chịu án phí ly hôn, án phí chia tài sản và chi phí thẩm định, định giá tài sản. Anh Tài phải chịu án phí chia tài sản.

Ngân hàng chính sách xã hội không phải chịu án phí; ông Đinh Văn Long bà Lưu Thị Phụng là người cao tuổi. Do vậy ông Long, bà Phụng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định.

[ 1 ] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Bắc có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, con chung và chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nên đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc Ly hôn, con chung, chia tài sản khi ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Tại Đơn xin ly hôn thể hiện bị đơn hiện ở khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; Ngân hàng Chính sách xã hội có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Tài, chị Bắc có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc là 70.000.000 đồng và lãi phát sinh cho đến khi kết thúc vụ án; Ông Đinh Văn Long, bà Lưu Thị Phụng có yêu cầu độc lập yêu cầu Tòa án thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Tài, chị Bắc, hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Long, bà Phụng và anh Tài, chị Bắc; đính chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Lưu Thị Phụng thành hộ bà Lưu Thị Phụng nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền.

[ 2 ] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Quách Thị Bắc và anh Đinh Văn Tài đăng ký kết hôn ngày 13/3/2006 tại UBND xã Phù Khê (nay là phường Phù Khê), thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Trước khi kết hôn chị Bắc và anh Tài có được tự do, tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Xét thấy, đây là hôn nhân hợp pháp vì tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Cả hai đều thừa nhận cuộc sống vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là có thật và nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong quá trình chung sống, vợ chồng thiếu tin tưởng lẫn nhau, anh Tài nghi ngờ chị Bắc có tình cảm ngoại tình với người đàn ông khác. Từ những mâu thuẫn trong cuộc sống hàng ngày nhưng không được các bên giải quyết triệt để dẫn đến quan hệ vợ chồng ngày càng căng thẳng, hiện vợ chồng sống ly thân và không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tiến hành hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành, chị Bắc vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Tài vì vợ chồng không còn tình cảm. Anh Tài thừa nhận trong cuộc sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, không thể hàn gắn được, hiện vợ chồng không còn tình cảm. Vợ chồng chị Bắc và anh Tài đều thừa nhận vợ chồng sống ly thân từ tháng 7 năm 2022 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Bắc và anh Tài đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai đều đồng ý ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của các đương sự, công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bắc và anh Tài.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên cháu Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006, cháu Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010 và cháu Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013. Ly hôn, chị Bắc có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Thi, anh Tài đề nghị được nuôi cả 03 con chung, xem xét đến nguyện vọng 03 con chung đều muốn ở với anh Tài. Xét việc giao con chung cho ai cần phải đảm bảo việc học tập, sinh hoạt, phát triển về thể chất và tinh thần của con và cũng cần xem xét theo nguyện vọng của các con. Do vậy, Giao cháu Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010 cho chị Bắc trực tiếp nuôi dưỡng; Giao cháu Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006 và cháu Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013 cho anh Tài trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra do các đương sự không yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung.

Về tài sản chung: Tài sản chung của hai vợ chồng anh Tài, chị Bắc đều xác định là đồ dùng gia đình bằng gỗ gồm:

  • - 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.9m) trị giá 17.000.000 đồng;
  • - 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.8m) trị giá 15.000.000 đồng;
  • - 01 kệ tivi gỗ hương lào (KT 2,05 x 0,56 x 0,69m) trị giá 9.000.000 đồng
  • - 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào (KT 2,08 x 0,59 x 2,2m) trị giá 40.000.000 đồng;

Anh Tài có nguyện vọng được hưởng bằng hiện vật, mỗi người được chia ½, tuy nhiên, phần anh Tài được hưởng để lại cho các con sử dụng; phần chị Bắc được hưởng đề nghị giữ lại để trả công nợ cho ngân hàng chính sách xã hội; Chị Bắc có nguyện vọng chia theo quy định của pháp luật và đồng ý nhận bằng tiền.

Xét thấy, đồ dùng sinh hoạt không thể chia đôi được, hiện nay, anh Tài đang sinh sống và trực tiếp quản lý tài sản trên. Vì vậy, cần tiếp tục giao cho anh Tài quản lý, sử dụng là hợp lý.

Ngoài ra, trong đơn chị Bắc còn yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng gồm vài thanh gỗ hương, tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vợ chồng chị Bắc, anh Tài đã tự giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nguồn gốc thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh chị Bắc khẳng định nguồn gốc là của bố mẹ đẻ anh Tài là ông Đinh Văn Long và bà Lưu Thị Phụng. Ngày 29/6/2012 ông Long, bà Phụng đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho vợ chồng anh Tài, chị Bắc. Vợ chồng anh Tài, chị Bắc đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.

Anh Tài, ông Long, bà Phụng, anh Lâm, chị Hà, anh Phát, chị Khánh xác định tài sản trên không phải của cá nhân bà Phụng mà là tài sản chung của hộ gia đình, thời điểm năm 2009 hộ gia đình bà Phụng đều có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Phù Khê gồm: bà Phụng, anh Đinh Văn Lâm, chị Đinh Thị Hà, anh Đinh Văn Tài, chị Quách Thị Bắc, anh Đinh Văn Phát, chị Phạm Thị Minh Khánh. Ông Đinh Văn Long có hộ khẩu thường trú tại Số 8 Hàng Đồng, hàng Bồ, Hoàn Kiến, Hà Nội nhưng vẫn thi thoảng sinh sống tại Phù Khê, đóng góp các khoản quỹ của địa phương. Nguồn gốc thửa đất trên là do UBND thành phố Từ Sơn và UBND phường Phù Khê cấp cho hộ gia đình bà Phụng có nhiều cặp vợ chồng sinh sống cùng nhau.

Tuy nhiên tại tài liệu do phía bị đơn cung cấp có đơn xác nhận ngày 28/6/2012 (bút lục 166) anh Tài xác định có hộ khẩu thường trú tại Số 8 Hàng Đồng, hàng Bồ, Hoàn Kiến, Hà Nội có xác nhận của phó chủ tịch UBND xã Phù Khê (nay là phường Phù Khê).

Tòa án đã ra Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, chứng minh về hộ khẩu thường trú của các thành viên trong hộ gia đình bà Phụng năm 2009. Tuy nhiên ông Long, bà Phụng, anh Tài, anh Lâm, chị Hà, anh Phát, chị Khánh đều không cung cấp được sổ hộ khẩu cũng như tài liệu chứng minh có hộ khẩu thường trú tại khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh vào năm 2009 hay không. Công an phường Phù Khê trả lời là không cung cấp được.

Ngoài ra, Tòa án đã ban hành công văn đề nghị Công an thành phố Từ Sơn và công an phường Phù Khê cung cấp tài liệu, chứng cứ hộ gia đình bà Phụng tại thời điểm năm 2009 gồm những thành viên nào. Tuy nhiên đến thời điểm xét xử Công an thành phố Từ Sơn vẫn không cung cấp hay có phản hồi cho Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh biết.

Tại biên bản xác minh ngày 30/01/2024 (bút lục 87) tại UBND phường Phù Khê ông Nguyễn Văn Hoàn cán bộ địa chính phường cung cấp: Thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh được UBND Từ Sơn cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Lưu Thị Phụng, sinh năm 1952 vào ngày 10/01/2011, nguồn gốc sử dụng Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, không liên quan đến đổi đất nông nghiệp của gia đình. Ngày 29/6/2012, bà Phụng và chồng là ông Đình Văn Long đã làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên cho vợ chồng anh Đình Văn Tài, chị Quách Thị Bắc. Trong tài liệu UBND phường Phù Khê có đơn xin xác nhận của anh Đinh Văn Tài ngày 28/6/2012 anh Tài có HKTT tại số 8, hàng Đồng, hàng Bồ, Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã làm công văn yêu cầu Văn phòng đăng ký đất đại thành phố Từ Sơn cung cấp tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất lần đầu cho bà Lưu Thị Phụng thì đơn đề nghị là ai? Bà Phụng hay hộ gia đình bà Phụng? Ông Đinh Văn Long và các thành viên khác có ai có ý kiến gì không? ... Trong tài liệu do Văn phòng đăng ký đất đai Từ Sơn cung cấp xác định đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 04/12/2010 người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là Lưu Thị Phụng;

Căn cứ vào Án lệ số 03/2016/AL ngày 06/4/2016 Hội đồng xét xử nhận thấy, từ khi chị Bắc, anh Tài được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² cho đến khi có đơn của chị Bắc xin ly hôn anh Tài tại Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn, thì gia đình ông Long, bà Phụng cùng các thành viên khác trong gia đình anh Tài cũng không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh cấp cho chị Bắc, anh Tài cũng như hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Long, bà Phụng với vợ chồng chị Bắc, anh Tài, việc ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Long, bà Phụng với chị Bắc, anh Tài là hoàn toàn tự nguyện của ông Long, bà Phụng. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình ông Long, bà Phụng là đã cho chị Bắc và anh Tài diện tích thửa đất nêu trên là có căn cứ. Do đó, việc các thành viên khác trong gia đình ông Long, bà Phụng không biết việc ông Long, bà Phụng đã tặng cho quyền sử dụng đất là thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là không có cơ sở chấp nhận. Như vậy, có căn cứ xác định lời khai của chị Bắc về việc ông Long, bà Phụng đã cho anh chị diện tích đất và ngôi nhà trên thửa đất trên là có cơ sở.

Vì vậy, HĐXX xác định thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² và 01 ngôi nhà 2,5 tầng xây dựng trên thửa đất tại địa chỉ: Khu phố Phù Khê Thượng, phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh là tài sản chung của vợ chồng anh Tài, chị Bắc. Xét thấy, nguồn gốc thửa đất trên là của bố mẹ anh Tài tặng cho vợ chồng anh Tài, chị Bắc. Ngoài ra, theo như tài liệu bị đơn cung cấp gồm các giấy tờ nhập viện, thuốc thang, điều trị mang tên Quách Thị Bắc, xác định chị Bắc thường xuyên đau ốm, bệnh tật. Do vậy, anh Tài có công sức đóng góp nhiều hơn chị Bắc, ngoài ra hiện nay anh Tài đang sinh sống cùng 03 con chung tại thửa đất trên. Vậy cần áp dụng khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình để chia tài sản chung cho anh Tài được hưởng 55% giá trị và cho anh Tài nhận bằng hiện vật. Anh Tài phải có trách nhiệm trích trả bằng tiền cho chị Bắc tương ứng với 45% giá trị tài sản chung của vợ chồng.

Vì vậy, bác toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Long, bà Phụng và các yêu cầu của anh Lâm, chị Hà, anh Phát, chị Khánh là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.

Về công nợ: Chị Bắc và anh Tài phải có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho ngân hàng chính sách xã hội Từ Sơn.

[ 4 ] Về án phí: Chị Quách Thị Bắc phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo qui định của pháp luật. Chị Bắc và anh Tài phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với giá trị phần tài sản mà chị Bắc, anh Tài được chia.

Ông Long, bà Phụng, ngân hàng chính sách không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 147, 157, 165, 232, 235, 262, 266, 271, 273 BLTTDS năm 2015;

Các Điều 33, 51, 53, 56, 59, 62, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Án lệ số 03/2026/AL ngày 06/4/2016 của Toà án nhân dân tối cao. Xử;

1. Về quan hệ vợ chồng:

Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Quách Thị Bắc và anh Đinh Văn Tài.

2. Về con chung:

Giao cháu Đinh Bảo Thi, sinh ngày 14/7/2010 cho chị Bắc trực tiếp nuôi dưỡng; Giáo cháu Đinh Ngọc Diệp, sinh ngày 16/12/2006 và cháu Đinh Minh Trí, sinh ngày 12/8/2013 cho anh Tài trực tiếp nuôi dưỡng. Về chi phí cấp dưỡng nuôi con: Chị Bắc, anh Tài không yêu cầu Tòa án giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung.

3. Về tài sản chung:

Giao cho anh Tài trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản chung vợ chồng gồm:

  • - 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.9m) trị giá 17.000.000 đồng;
  • - 01 giường gỗ hương lào (KT 2,15x1.8m) trị giá 15.000.000 đồng;
  • - 01 kệ tivi gỗ hương lào (KT 2,05 x 0,56 x 0,69m) trị giá 9.000.000 đồng
  • - 01 tủ 04 cánh gỗ hương lào (KT 2,08 x 0,59 x 2,2m) trị giá 40.000.000 đồng;
  • - 01 ngôi nhà 2,5 tầng có diện tích xây dựng là 234,5m² trị giá là: 547.420.000 đồng.
  • - Giá trị quyền sử dụng đất thửa đất số 69, tờ bản đồ 26, diện tích 101,3m² trị giá là 2.684.450.000 đồng.

Tổng giá trị toàn bộ tài sản chung của vợ chồng chị Bắc, anh Tài là: 3.312.870.000 đồng.

Anh Đinh Văn Tài phải có nghĩa vụ trích chia cho chị Quách Thị Bắc 45% tổng giá trị tài sản chung của vợ chồng cụ thể số tiền là 45% x 3.312.870.000 = 1.490.791.000 đồng.

Bác toàn bộ yêu cầu độc lập của ông Long, bà Phụng.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của ngân hàng chính sách xã hội Từ Sơn: Buộc anh Tài, chị Bắc có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng chính sách xã hội tổng số tiền tính đến ngày 29/9/2024 là 70.092.000 đồng. Cụ thể chị Bắc phải trả số tiền 35.042.000 đồng, anh Tài phải trả số tiền 35.042.000 đồng cho ngân hàng chính sách xã hội Từ Sơn.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận đã ký.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn lại phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí:

Chị Quách Thị Bắc phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị Quách Thị Bắc đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số AA/2021/0004027 ngày 08/03/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Chị Quách Thị Bắc phải chịu 56.723.730 đồng án phí chia tài sản chung và 1.752.000 án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Đinh Văn Tài phải chịu 66.662.370 đồng án phí chia tài sản chung và 1.752.000 án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Long, bà Phụng được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ngân hàng chính sách không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhân:

  • - Toà án tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh.
  • - VKSND thành phố Từ Sơn.
  • - Người tham gia tố tụng khác.
  • - THA thành phố Từ Sơn.
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Xuân Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH về tranh chấp về hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger