Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số:26/2024/HS-ST

Ngày: 28-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hồng Tâm và bà Trần Thị Thu.

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Tế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 28/9/2024, tại Phòng xét xử - trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 10/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Q (Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 25/7/1990 tại Thừa Thiên Huế; Số CCCD: [...] cấp ngày 08/3/2022; Nơi cấp: Cục C về TTXH- Bộ C1; Nơi cư trú: Thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn V và bà Nguyễn Thị H; Đã có vợ Phan Thị Bích H1 (đã ly hôn) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017;

Tiền án: 01 Tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, bị Tòa án nhân thành phố H xử phạt 01 năm 06 tháng tù tại bản án số 329/2022/HSST ngày 29/12/2022 (đã chấp hành xong bản án).

Tiền sự: Không.

Qúa trình nhân thân:

  • Từ tháng 3/2006 đến tháng 7 năm 2007: Nhiều lần gây rối TTCC bị Công an xã P đưa ra giáo dục tại xã phường theo Nghị định 163/CP.
  • Ngày 21/01/2011: Trộm cắp tài sản, bị Công an phường A, thành phố H xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 750.000 đồng (đã chấp hành nộp phạt).
  • Ngày 22/9/2011: Cướp giật tài sản, bị Tòa án nhận thành phố H xử phạt 03 năm 06 tháng tù tại bản án số 183/2011/HSST (đã chấp hành xong bản án).
  • Ngày 07/9/2020: Trộm cắp tài sản, bị Công an xã P, huyện P xử phạt vi phạm hành chính số tiền: 1.500.000 đồng (đã chấp hành nộp phạt).
  • Ngày 18/6/2021: Trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân thị xã H xử phạt 01 năm tù tại bản án số 28/2021/HSST ngày 18/6/2021 (đã chấp hành xong bản án).

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/6/2024, chuyển tạm giam từ ngày 03/7/2024, có mặt.

Bị hại: Chị Trần Thị Kim L; sinh năm: 1997; địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Võ Thị H2; sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.
  • Bà Nguyễn Thị H; sinh năm: 1965; địa chỉ: Thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

Người làm chứng:

  • Ông Trần Văn Đ; sinh năm:1971; địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ sáng ngày 27 tháng 6 năm 2024, bị can Nguyễn Văn Q sinh ngày 25 tháng 7 năm 1990, trú tại thôn M, xã P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế mượn chiếc xe đạp nhãn hiệu Asama màu nâu vàng của mẹ mình là bà Nguyễn Thị H rồi một mình điều khiển xe đạp về xã P, huyện P để tìm nhà một người bạn tên là Lê Quang B, sinh năm 1995, trú tại xã P, huyện P chơi. Đến khoảng 07 giờ 10 phút cùng ngày, Q đạp xe đến một đoạn đường bê tông thuộc Cụm Đ, thôn V, xã P, huyện P thì dừng xe và để xe đạp bên lề đường, rồi một mình đi vào nhà của bà Trần Thị Kim L để hỏi nhà Lê Quang B, khi Q đi vào trong nhà thì không có ai ở trong nhà, Q lên tiếng hỏi "nhà có ai không", không thấy ai trả lời, Q nhìn phía trên tủ lạnh đang để ở góc nhà có 02 (hai) chiếc điện thoại di động đang để xếp chồng lên nhau nên Q nảy sinh ý định lấy trộm 02 chiếc điện thoại đó. Q đi đến bên tủ lạnh đưa tay phải lên cầm lấy chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số máy MQAD2VN/A, số sêri DNPYP3RWJCLJ và chiếc điện thoại nhãn hiệu VSMART, màu xanh đen, số Imei 1: 3458112300919, số Imei 2: 3458112300927 định bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng rời đi, nhưng khi Q vừa lấy 02 chiếc điện thoại đó ra khỏi vị trí của tủ lạnh thì bà Trần Thị Kim L bất ngờ từ phía nhà sau chạy vào chụp lấy tay của Q lại và tri hô: "Ba ơi, trộm, trộm, trộm" ngay sau khi bà L tri hô thì ông Trần Văn Đ - là ba của bà L chạy vào bắt giữ Q lại và điện thoại trình báo Công an xã P đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 02 chiếc điện thoại cùng chiếc xe đạp của Q để điều tra làm rõ.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số máy MQAD2VN/A, số sêri DNPYP3R WJCLJ (điện thoại đã qua sử dụng).
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh đen, số Imei 1: 3458112300919, số Imei 2: 3458112300927 (điện thoại đã qua sử dụng).
  • 01 (một) chiếc xe đạp màu nâu vàng, trên thân xe có ghi dòng chữ ASAMA (xe đã qua sử dụng).

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐĐGTS ngày 28/06/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định: Tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/6/2024, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số máy MQAD2VN/A, số sêri DNPYP3RWJCLJ có giá trị 3.773.000 đồng (Ba triệu bảy trăm bảy mươi ba ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh đen, số Imei I: 3458112300919, số Imei 2: 3458112300927 có giá trị 1.245.000 đồng (Một triệu hai trăm bốn mươi lăm ngàn đồng). Tổng giá trị của 02 (hai) chiếc điện thoại nêu trên tại thời điểm bị chiếm đoạt ngày 27/6/2024 có giá trị 5.018.000 đồng (Năm triệu không trăm mười tám ngàn đồng).

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

  • Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu là bà Trần Thị Kim L, sinh năm: 1997, trú tại Cụm Đ, thôn V, xã P, huyện P gồm: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số máy MQAD2VN/A, số sêri DNPYP3RWJCLJ và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VSMART, màu xanh đen, số Imei 1: 3458112300919, số Imei 2: 3458112300927 (điện thoại đã qua sử dụng). Bà Trần Thị Kim L đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm.
  • 01 (một) chiếc xe đạp màu nâu vàng, trên thân xe có ghi dòng chữ ASAMA (xe đã qua sử dụng) hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án huyện Phú Vang.

Tại bản Cáo trạng số 23/CT-VKSPV ngày 09 tháng 9 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đã truy tố Nguyễn Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 2 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại - 01 (một) chiếc xe đạp màu nâu vàng, trên thân xe có ghi dòng chữ ASAMA (xe đã qua sử dụng) cho Nguyễn Thị H.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; bị hại; không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Khoảng 7 giờ 10 phút ngày 27/6/2024 tại Thôn V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, nguyễn Văn Q đã có hành vi lén lút vào nhà bà Trần Thị Kim L trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động của bà L. Tổng giá giá trị tài sản là 5.018.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang truy tố bị cáo về tội danh theo điều luật như bản Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn Q là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của người bị hại không quản lý tài sản để thực hiện hành vi tội phạm. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và làm gương cho kẻ khác. Bị cáo có nhân thân xấu và có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tự rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục vi phạm pháp luật nên cần xét xử nghiêm để giáo dục bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Nguyễn Văn Q được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Văn Q ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc xe đạp màu nâu vàng, trên thân xe có ghi dòng chữ ASAMA (xe đã qua sử dụng) xét thấy khi bà H cho bị cáo mượn xe đạp bà H không biết bị cáo đi trộm cắp tài sản nên trả lại cho chủ sở hữu là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Q 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 27/6/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Trả lại cho bà Nguyễn Thị H 01 (một) chiếc xe đạp màu nâu vàng, trên thân xe có ghi dòng chữ ASAMA (xe đã qua sử dụng) Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 27 tháng 9 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T;
  • - VKSND tỉnh T;
  • - VKSND huyện P;
  • - Công an huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger