|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/KDTM-ST
Ngày: 26/9/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Lê Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phú Hào và ông Lê Nhật Hoàng Phương.
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Đức Duy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên toà: Ông Trần Minh Tín – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 52/2023/TLST-KDTM ngày 01 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/QĐXX-ST, ngày 16/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 22 /2024/QÐST-DS, ngày 06/9/2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ngân hàng N1; Địa chỉ: B L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Mai Trọng H – Phó Giám đốc Ngân hàng N1, chi nhánh thành phố T, tỉnh Phú Yên; Địa chỉ: B T, Phường D, thành phố T, Phú Yên.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị Xuân T, sinh năm: 1970 và ông Trần N, sinh năm: 1970; Địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, Phú Yên.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:
Ngày 08/11/2021, giữa Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố T và ông Trần N, bà Phạm Thị Xuân T có ký Hợp đồng tín dụng số: 4601-LAV-202101457, theo đó: ông N, bà T vay của Ngân hàng số tiền 1.500.000.000 đồng với phương thức cho vay theo hạn mức; mục đích vay: bán lẻ bánh kẹo, sơn, bia, nước giải khát, đồ điện dân dụng, ống nước; thời gian duy trì hạn mức 12 tháng, kể từ ngày ký đến ngày 08/11/2022; Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ. Mức lãi suất 8,5% tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng, sau đó theo thỏa thuận tại từng giấy nhận nợ; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn 150% cho vay trong hạn.
Để đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông N, bà T thế chấp quyền sử dụng đất (trên đất có căn nhà cấp 4) tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 (đo đạc năm 1997), địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, Phú Yên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 645506, số vào Sổ CS 08908 ngày 05/4/2021 cho ông N, bà T theo như Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 051121/HĐTC ngày 05/11/2021 được ký kết giữa hai bên, đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T ngày 05/11/2021; và thế chấp tài sản là tàu cá PY-90007-TS, chủ tàu là ông Trần N, theo như Hợp đồng thế chấp tài sản số 051121/HĐTCTS ngày 05/11/2021 được ký kết giữa hai bên, đã đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định.
Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông N, bà T bằng 04 kế ước nhận nợ tại 04 Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ, cụ thể:
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 26/8/2022: Số tiền giải ngân: 150.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 09 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là 31/5/2023; Lãi suất vay: 8,6%/năm.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 27/9/2022: Số tiền giải ngân: 350.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 09 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là 25/6/2023; Lãi suất vay: 8,8%/năm.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 27/9/2022: Số tiền giải ngân: 500.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 09 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là 30/6/2023; Lãi suất vay: 8,8%/năm.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 28/9/2022: Số tiền giải ngân: 500.000.000 đồng; Thời hạn cho vay: 09 tháng, ngày trả nợ cuối cùng là 30/6/2023; Lãi suất vay: 8,8%/năm.
Đến ngày đáo hạn của các Khế ước nhận nợ nêu trên nhưng ông N, bà T không trả nợ đầy đủ cho Ngân hàng. Do đó, tính kể từ ngày kế tiếp của ngày đáo hạn, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản vay chưa thanh toán của các Khế ước nhận nợ nêu trên sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 20/5/2024, bị đơn còn nợ Ngân hàng các khoản sau:
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 26/8/2022: nợ gốc 50.000.000 đồng, lãi trong hạn 4.243.452 đồng, lãi quá hạn 2.096.986 đồng; tổng cộng là 56.340.438 đồng.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 27/9/2022: nợ gốc: 350.000.000 đồng, lãi trong hạn 27.424.658 đồng, lãi quá hạn 13.923.288 đồng; tổng cộng là 391.347.946 đồng.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 27/9/2022: nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi trong hạn 39.178.082 đồng, lãi quá hạn 19.649.315 đồng; tổng cộng 558.827.397 đồng.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ ngày 28/9/2022: nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi trong hạn 39.178.082 đồng, lãi quá hạn 19.649.315 đồng; tổng cộng 558.827.397 đồng.
Tổng cộng bị đơn còn nợ số tiền là 1.565.343.178 đồng, trong đó: gốc là 1.400.000.000 đồng, lãi trong hạn 110.024.274 đồng, lãi quá hạn 55.318.904 đồng.
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ nhưng đến nay bị đơn vẫn không thực hiện nghĩa vụ. Do đó, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa giải quyết buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền còn nợ trên và phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất cam kết trong các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết kể từ ngày tiếp theo cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý toàn bộ tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ theo quy định pháp luật.
* Bị đơn bà Phạm Thị Xuân T trình bày: Vợ chồng tôi (Phạm Thị Xuân T và Trần N) có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng N1 – chi nhánh thành phố T vào ngày 08/11/2021, vay số tiền 1.500.000.000 đồng như Ngân hàng trình bày. Quá trình thực hiện hợp đồng, do hoàn cảnh nên chúng tôi không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu chúng tôi trả nợ thì chúng tôi đồng ý, nhưng hiện hoàn cảnh khó khăn nên tôi xin được trả dần.
Khi vay vợ chồng tôi có thế chấp tài sản bảo đảm là nhà đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 (đo đạc năm 1997), địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, Phú Yên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 645506, số vào Sổ CS 08908 ngày 05/4/2021; và thế chấp tài sản là tàu cá PY-90007-TS, được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 180/2013, cơ quan đăng kiểm Chi cục KT và B cấp ngày 19/9/2013.
* Bị đơn ông Trần N vắng mặt không có trình bày.
Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
* Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa giải quyết buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng và các báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết tính đến ngày 26/9/2024, tổng cộng là 1.630.872.329 đồng; trong đó: gốc là 1.400.000.000 đồng; lãi trong hạn là 153.193.588 đồng, lãi quá hạn là 76.903.563 đồng, lãi chậm trả là 775.178 đồng; và phải trả lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo đến ngày trả hết nợ. Nếu bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt nên phải chịu hậu quả pháp lý theo quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 117, 280, 299, 303, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 325, 401 của Bộ luật dân sự; các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc bị đơn bà T, ông N phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc còn nợ tổng cộng là 1.400.000.000 đồng và các khoản lãi phát sinh theo các hợp đồng đã ký kết. Nguyên đơn được quyền yêu cầu xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ khi bị đơn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Trần N và bà Phạm Thị Xuân T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện: Ngày 08/11/2021, giữa Ngân hàng N1 - Chi nhánh thành phố T và ông Trần N, bà Phạm Thị Xuân T có ký Hợp đồng tín dụng số: 4601-LAV-202101457, theo đó: ông N, bà T vay của Ngân hàng số tiền 1.500.000.000 đồng với phương thức cho vay theo hạn mức; mục đích vay: bán lẻ bánh kẹo, sơn, bia, nước giải khát, đồ điện dân dụng, ống nước; thời gian duy trì hạn mức 12 tháng, kể từ ngày ký đến ngày 08/11/2022; Thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ theo từng báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ. Mức lãi suất 8,5% tại thời điểm ký hợp đồng tín dụng, sau đó theo thỏa thuận tại từng giấy nhận nợ; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn 150% cho vay trong hạn. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho ông N, bà T bằng 04 kế ước nhận nợ tại 04 Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ, với số tiền giải ngân tổng cộng là 1.500.000.000 đồng. Xét Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ được ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn đảm bảo hình thức và nội dung đúng quy định pháp luật, thể hiện được ý chí tự nguyện thỏa thuận của các bên nên Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ đã ký kết phát sinh hiệu lực, buộc các bên phải thực hiện.
[3] Quá trình thực hiện các hợp đồng tín dụng, bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi khi đến hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền còn nợ là có căn cứ nên chấp nhận.
[4] Tính đến ngày xét xử sở thẩm ngày 26/9/2024, bị đơn còn nợ nguyên đơn các khoản sau:
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204031 ngày 26/8/2022: nợ gốc 50.000.000 đồng, lãi trong hạn 5.751.397 đồng, lãi quá hạn 2.850.959 đồng, lãi chậm trả 775.178 đồng; tổng cộng là 59.377.534 đồng.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204548 ngày 27/9/2022: nợ gốc: 350.000.000 đồng, lãi trong hạn 38.225.753 đồng, lãi quá hạn 19.323.836 đồng; tổng cộng là 407.549.589 đồng.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204549 ngày 27/9/2022: nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi trong hạn 54.608.219 đồng, lãi quá hạn 27.364.384 đồng; tổng cộng 581.972.603 đồng.
- Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204554 ngày 28/9/2022: nợ gốc 500.000.000 đồng, lãi trong hạn 54.608.219 đồng, lãi quá hạn 27.364.384 đồng; tổng cộng 581.972.603 đồng.
[5] Tổng cộng bị đơn còn nợ số tiền là 1.630.872.329 đồng; trong đó: gốc là 1.400.000.000 đồng; lãi trong hạn là 153.193.588 đồng, lãi quá hạn là 76.903.563 đồng, lãi chậm trả là 775.178 đồng. Bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn số tiền còn nợ trên và lãi phát sinh theo các hợp đồng đã ký kết.
[6] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của nguyên đơn, thấy: Các khoản vay của bị đơn tại Ngân hàng được bảo đảm bằng các tài sản sau:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 (đo đạc năm 1997), địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, Phú Yên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 645506, số vào Sổ cấp GCN: CS 08908 ngày 05/4/2021 cho ông N, bà T theo như Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 051121/HĐTC ngày 05/11/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T ngày 05/11/2021.
- 01 Tàu cá có số đăng ký PY-90007-TS, chủ tàu là ông Trần N, theo như Hợp đồng thế chấp tài sản số 051121/HĐTCTS ngày 05/11/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 26/4/2024 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng.
[7] Việc thế chấp các tài sản này đều được lập thành văn bản, có công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại các Điều 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 22 của Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; các bên không ai có ý kiến gì nên các hợp đồng thế chấp đã ký kết trên phát sinh hiệu lực, buộc các bên phải thi hành. Do đó, nguyên đơn yêu cầu xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo như các hợp đồng thế chấp đã ký kết trong trường hợp bị đơn không trả được nợ là có căn cứ theo quy định tại Điều 299, Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015, nên chấp nhận.
[8] Đối với tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 (đo đạc năm 1997), địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, Phú Yên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 645506, số vào Sổ cấp GCN: CS 08908 ngày 05/4/2021 cho ông N, bà T. Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 051121/HĐTC ngày 05/11/2021 xác định tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất nhưng tại thời điểm thế chấp, trên đất đã có xây dựng nhà cấp 4; các bên đều xác định nhà cấp 4 này cũng thuộc quyền sở hữu của bị đơn và trong hợp đồng thế chấp các bên cũng có thỏa thuận tài sản gắn liền với đất cũng thuộc tài sản thế chấp nên tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 4 cũng thuộc tài sản thế chấp; do đó, khi xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất được xử lý bao gồm cả tài sản gắn liền với đất là có căn cứ theo quy định tại khoản 3 Điều 318, khoản 1 Điều 325 Bộ luật dân sự năm 2015.
[9] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn phải chịu số tiền 1.500.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.500.000 đồng. Nguyên đơn được nhận lại 1.500.000 đồng tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa.
[10] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 4 của Luật Thương mại năm 2005;
Áp dụng các Điều 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
Áp dụng các Điều 298, 299, 317, 318, 319, 323, 325, 401, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai năm 2013;
Áp dụng các Điều 22, 23 của Nghị định 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành Bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
-
Buộc bị đơn bà Phạm Thị Xuân T và ông Trần N phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn Ngân hàng N1 số tiền còn nợ tính đến ngày 26/9/2024 theo Hợp đồng tín dụng và các Giấy nhận nợ đã ký kết tổng cộng gốc, lãi là 1.630.872.329 đồng (Một tỷ sáu trăm ba mươi triệu, tám trăm bảy mươi hai nghìn, ba trăm hai mươi chín đồng); trong đó: gốc là 1.400.000.000 đồng; lãi trong hạn là 153.193.588 đồng, lãi quá hạn là 76.903.563 đồng, lãi chậm trả là 775.178 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số: 4601-LAV-202101457, ngày 08/11/2021 và các Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204031 ngày 26/8/2022; Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204548 ngày 27/9/2022; Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204549 ngày 27/9/2022; Báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 4601LDS202204554 ngày 28/9/2022.
-
Trường hợp bị đơn không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ thì nguyên đơn được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý các tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo như các hợp đồng thế chấp đã ký kết, gồm:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 2 (đo đạc năm 1997), địa chỉ: khu phố F, phường P, thành phố T, Phú Yên, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CX 645506, số vào Sổ cấp GCN: CS 08908 ngày 05/4/2021 cho ông Trần N và bà Phạm Thị Xuân T, theo như Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 051121/HĐTC ngày 05/11/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T ngày 05/11/2021.
- 01 Tàu cá có số đăng ký PY-90007-TS, chủ tàu là ông Trần N, theo như Hợp đồng thế chấp tài sản số 051121/HĐTCTS ngày 05/11/2021, đã đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 26/4/2024 tại Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại thành phố Đà Nẵng.
-
Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Căn cứ Điều 157, 158 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Bị đơn phải chịu số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng). Nguyên đơn được nhận lại 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng đã nộp tại Tòa.
-
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị đơn phải chịu 60.926.000 đồng (Sáu mươi triệu chín trăm hai mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
Hoàn trả cho nguyên đơn Ngân hàng N1 28.117.300 đồng (Hai mươi tám triệu, một trăm mười bảy nghìn, ba trăm đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0012677, ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Lê Mai |
Bản án số 26/2024/KDTM-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ
