|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/DS -ST Ngày: 24/09/2024 "Tranh chấp mương thoát nước và Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Với thành phần hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Khánh
Các hội thẩm nhân dân: 1- Bà Hà Thị Lan
2- Ông Trương Khánh Thành
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/9/2024 tại hội trường Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án Dân sự đã thụ lý số: 34/TLST - DS, ngày 13/6/2024 về việc: “Tranh chấp mương thoát nước và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/QĐST - DS, ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1983 (có mặt)
Địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1959 (có mặt)
Địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Bị đơn: Ông Quách Xuân H, sinh năm 1960 (có mặt)
Địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thanh G, sinh năm 1988 (có mặt)
- Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1959
Đều trú tại: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1961 (vắng mặt)
- Người được ủy quyền: Ông Quách Xuân H, sinh năm 1960 (có mặt)
Đều có địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3. Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Thanh C – Trưởng phòng Tài Nguyên & Môi trường huyện Đ. (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
* Người làm chứng: Ông Nguyễn Thế C1, sinh năm 1945 (vắng mặt)
Địa chỉ: xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và các bản khai tại Tòa án nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày.
Năm 1985 ông T được nhà nước cấp cho thửa đất để sử dụng nay là thửa đất số 412, tờ bản đồ số 17, tại xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình sử dụng khi con trai ông T xây dựng gia đình vợ chồng ông T đã tặng cho vợ chồng con trai là anh Nguyễn Văn N và chị Nguyễn Thanh G để làm nơi ở sinh hoạt hàng ngày. Anh N và chị G đã được ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 545302 với tổng diện tích là 1.139m² trong đó đất ở tại nông thôn 250m², đất trồng cây lâu năm 889m². Lúc đầu mương thoát nước từ đất nhà ông T ra mương làng là giao thông hào, ông T tiếp tục khai phá đường đi vào nhà rộng khoảng 03 mét giáp với phần đất sau nhà này nhà nước giao cho ông Quách Xuân H sử dụng. Khoảng năm 1994 do đường đi đó không thuận lợi nên ông T chuyển cổng nhà sang hướng khác, ông H đã xin ông toán đường đi, ông T đồng ý nhưng có trao đổi với ông H xây cho gia đình ông T mương để thoát nước giáp với phần đất ông T cho ông H để làm mương thoát nước. Đến ngày 11/10/2020 anh N và chị G bán đất cho ông H 63,9m² đất ao, việc mua bán diễn ra thuận lợi không ai có ý kiến gì. Vợ chồng con ông T bán đất cho ông H với giá là 70.000.000đ (bẩy mươi lăm triệu đồng), trong đó thực tế nhận về 65.000.000đ (sáu mươi lăm triệu đồng) còn 5.000.000đ (năm triệu đồng) là tiền cho ông H xây tường rào. Ông H đã trả đủ cho anh N và chị G 65.000.000đ (sáu mươi lăm triệu đồng), khi mua bán hai bên có thỏa thuận bên mua vẫn tiếp tục để đường mương thoát nước kéo dài từ điểm hết đất của gia đình anh N ra đến mương làng, lòng mương rộng ít nhất 60cm. Sau khi mua được đất của vợ chồng anh N, gia đình ông H san lấp phần ao do vợ chồng anh N bán cho để làm nhà (hiện nay trên đất mua của gia đình anh N ông H đã xây nhà kiên cố), đến năm 2023 ông H xây tường rào bao quanh thửa đất và có nói mương thoát nước thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H, ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tuyên bố lấp mương nước. Gia đình ông đã ngăn cản và báo với xóm, xã đề nghị giải quyết, hòa giải nhưng không thành.
Nay anh Nguyễn Văn N khởi kiện, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên yêu cầu ông Quách Xuân H trả lại mương thoát nước cho gia đình anh N và chị G.
Đối với với nội dung phản tố của ông Quách Xuân H ông Nguyễn Ngọc T xác định: Ngày 11/10/2020 con trai và con dâu ông T đã bán 63,9m² đất ao tại thửa đất số 412, tờ bản đồ số 17 là phần đất giáp với đất nhà ông H với giá 70.000.000đ (bẩy mươi triệu đồng), anh N và chị G cho ông H 5.000.000đ (năm triệu đồng) để xây dựng tường rào, việc mua bán là có thật, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B. Sau khi mua đất gia đình ông H đã xây tường rào ngăn cách và xây dựng các công trình kiên cố trên đất. Đến nay gia đình anh N không có ý kiến gì về việc mua bán này và xác định việc mua bán đã hoàn thành. Tuy nhiên trong giấy tờ mua bán đó hai bên có thỏa thuận tiếp tục duy trì mương thoát nước từ hết đất nhà anh N ra đến mương làng, chiều rộng của mương ít nhất là 60cm. Ông T không nhất trí với quan điểm của ông H về nội dung ông H cho rằng mương thoát nước là của gia đình ông H, không nhất trí trả tiền đất và tiền xây dựng mương thoát nước cho ông H.
Tại đơn phản tố và lời khai của phía bị đơn ông Quách Xuân H trình bày: Năm 1987 ông được nhà nước giao đất và cấp quyền sử dụng đất đối với toàn bộ diện tích đất mà gia đình ông H đang sử dụng như hiện nay, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 707513 do Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp ngày 27/12/2021 đối với thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17 diện tích 644m² trong đó đất ở tại nông thôn 300m² đất trồng cây lâu năm 344m². Năm 1990 gia đình ông H xây dựng con mương thoát nước giáp với đất nhà ông Nguyễn Thế C1 là hộ liền kề để làm mương thoát nước cho gia đình, khi đó gia đình ông H có cho gia đình ông Nguyễn Ngọc T (bố đẻ anh N) thoát nhờ nước từ ao qua mương này ra mương làng. Sau này ông T tặng cho thửa đất cho vợ chồng anh N, gia đình ông vẫn duy trì cho gia đình anh N thoát nước nhờ, toàn bộ mương thoát nước nằm trong khuân viên tường rào của gia đình ông H. Ngày 11/10/2020 gia đình ông H có mua của gia đình anh N 63,9m² đất, sau khi mua xong gia đình ông H đã san lấp và có xây 01 mương thoát nước nối vào mương thoát nước cũ có chiều dài 6,8m để làm mương thoát nước và cho nhà anh N thoát nước nhờ ra mương làng. Ông H xác định mương thoát nước phía nguyên đơn đang tranh chấp thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H. Toàn bộ mương thoát nước do gia đình ông H xây dựng để thoát nước thải, nước mưa cho gia đình, gia đình anh N có được gia đình ông H cho sử dụng nhờ mương để thoát nước thải ra đến mương của làng. Trước đây gia đình ông H xây tường rào quanh thửa đất trong đó có cả hai đầu mương thoát nước. Trong quá trình sử dụng gia đình ông H xây dựng lại nhà mới, do tường rào xây lâu năm bị xuống cấp nên gia đình ông H đã phá bỏ tường cũ để xây lại tường rào trên nền đất cũ nhưng gia đình anh N ngăn cản không cho xây. Ông H xác định mương thoát nước đó nằm trong thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17 và một đoạn mương nằm trên phần đất gia đình ông H đã mua của gia đình anh N. Thửa đất số 385 gia đình ông H đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 707513, cấp ngày 27/12/2021 và có 6,8m mương thoát nước nằm trên phần đất gia đình ông H mua của gia đình anh N. Hiện nay gia đình ông H vẫn dùng để thoát nước và nằm trong khuân viên đất của gia đình ông H. Anh Nguyễn Văn N khởi kiện yêu cầu ông H trả lại cho gia đình anh N mương thoát nước ông H không nhất trí. Ông H có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên: Công nhận mương thoát nước thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H; Công nhận 63,9m² đất mua của gia đình ông mua của gia đình anh N năm 2020 thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông. Qua đo đạc thực tế phần đất ông H mua của gia đình anh N có diện tích 40,9m². Trường hợp anh N muốn thoát nước thải đi qua phải được sự đồng ý của gia đình ông H hoặc có phương án đặt cống ngầm để không ảnh hưởng đến môi trường và đảm bảo an ninh trật tự, phải bồi thường cho gia đình ông H tiền đất và tiền công xây dựng mương nước.
Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái nguyên - Ông Cao Thanh C: Trưởng phòng Tài Nguyên & Môi trường huyện Đ có ý kiến tại văn bản số 354/CV- TNMT ngày 26/8/2024 thể hiện: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 707513, cấp ngày 27/12/2021 cấp cho ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17, diện tích 644m²; địa chỉ thửa đất xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên được cấp theo đúng trình tự, quy định của pháp luật.
Người làm chứng ông Nguyễn Thế Chính xác Đ1: Ông C1 là hộ liền kề với gia đình ông Quách Xuân H và hộ anh Nguyễn Văn N nên có biết nguồn gốc mương thoát nước hiện nay anh N đang tranh chấp với ông H cụ thể: Năm 1981 ông C1 được Ủy ban nhân dân xã B giao đất, năm 1982 vợ chồng ông C1 ra khu đất đó để làm nhà, gia đình ông C1 là nhà ra đó ở đầu tiên trong ba nhà. Khi ông C1 ra ở khu vực nhà ông H và anh N đang ở bây giờ là ruộng của Hợp tác xã không có mương thoát nước. Năm 1983 Hợp tác xã làm kho đúng vị trí nhà ông H đang ở, khi đó để lấy đất tôn nền kho Hợp tác xã có lấy phần giáp với đất nhà ông và vòng quanh kho trong đó có cả nhà ông T (sau này tặng cho anh N) đắp cao làm nền nhà kho, sau khi lấy đất làm nền kho thì vòng quanh kho hình thành giao thông hào của Hợp tác xã. Năm 1987 Hợp tác xã giải thể, ông H đi bồ đội về có được Nhà nước giao cho toàn bộ khu đất để làm nhà ở, năm 1988 xóm có đứng ra chia giao thông hào phần giáp với đất nhà ông và nhà ông H mỗi người một nửa, phần giao thông hào phía trong nhà ông T sử dụng. Sau khi được chia ông đã xây tường rào cao khoảng 1,5m hiện nay tường rào vẫn còn. Phía bên nhà ông H vẫn để giao thông hào, đến năm 1990 ông H có nhờ ông cùng ông H xây mương thoát nước cho nhà ông H trong đó ông là người trực tiếp xây không lấy tiền công. Ông Chính xác Đ1 mương thoát nước nay do ông H là người đứng ra xây dựng, khi xây không thấy ông T hay có ai khác cùng xây với ông H. Trước kia mương nước nằm trong khuân viên nhà ông H được ông H xây tường rào bao quanh, đến khoảng năm 2022 ông H phá tường rào cũ xây lại tường rào mới thì gia đình anh N không cho xây, từ đó xảy ra tranh chấp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, tuy nhiên các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên phải đưa ra xét xử tại phiên tòa ngày hôm nay.
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên toà: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc đề nghị Tòa công nhận 40,9m² đất tại thửa đất số 12, tờ bản đồ số 17 tại xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thuộc quyền sử dụng của ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ. Xác định mương thoát nước có sơ đồ kèm theo thuộc quyền sử dụng chung của hai gia đình anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thanh G và gia đình ông Quách Xuân H, bà Nguyễn Thị Đ. Buộc anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thanh G bồi thường 1/2 tiền đất và công xây dựng mương thoát nước cho ông H. Các đương sự phải chi phí tố tụng và án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử thảo luận và nghị án.
[1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án dân sự về việc: “Tranh chấp mương thoát nước và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn anh Nguyễn Văn N với phía bị đơn ông Quách Xuân H. Anh N yêu cầu Tòa án buộc ông H là hộ liền kề trả mương thoát nước cho gia đình anh N đi qua một phần đất thuộc thửa 385 tờ bản đồ số 17 thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên do vợ chồng ông Quách Xuân H đang quản lý, sử dụng. Phía bị đơn ông Quách Xuân H có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án công nhận mương thoát nước thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H, công nhận 63,9m² đất ông H nhận chuyển nhượng của anh N và chị G thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông H; trường hợp gia đình anh N muốn thoát nước thải đi qua phần đất của ông H phải được sự đồng ý của gia đình ông hoặc có phương án đặt cống ngầm để không ảnh hưởng đến môi trường và đảm bảo an ninh, bồi thường tiền đất và tiền xây dựng mương thoát nước cho gia đình ông H. Theo quy định tại khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
Tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn anh Nguyễn Văn N và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Ngọc T và phía bị đơn ông Quách Xuân H có mặt. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ Vắng mặt), chị Nguyễn Thanh G vắng mặt đã ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc T, đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện Đ ông Cao Thanh C - Trưởng phòng T, người làm chứng ông Nguyễn Thế C1 vắng mặt trước đó đã có lời khai tại Tòa án. Căn cứ Điều 227, 229 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Nhận định về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án:
[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tranh chấp mương thoát nước thì thấy:
Qua thẩm định tại chỗ và đo đạc bằng máy thể hiện mương thoát nước chia làm hai đoạn. Phần mương thoát nước nằm trên thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17 chủ sử dụng gia đình ông Quách Xuân H có diện tích 12,0m² giáp với tường rào gia đình ông Nguyễn Thế C1, phần diện tích mương nước nằm trên thửa đất số 412 ghi chủ sử dụng gia đình anh Nguyễn Văn N có diện tích 2,6m². Các đương sự đều xác nhận đoạn 1 mương thoát nước được gia đình ông Quách Xuân H xây dựng từ năm 1990, đoạn 2 được gia đình ông H xây dựng sau khi nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng anh N. Gia đình anh N và ông T không tiến hành xây dựng mương thoát nước.
Phía nguyên đơn cho rằng mương thoát nước thuộc quyền sử dụng của gia đình nguyên đơn là không có căn cứ bởi lẽ: Qua kiểm tra hiện trạng và lồng ghép bản đồ được lưu tại xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thể hiện: Thửa đất 385, tờ bản đồ số 17 bản đồ địa chính xã B do gia đình ông Quách Xuân H đang sử dụng và thửa đất 412, tờ bản đồ số 17 bản đồ địa chính xã B do gia đình anh Nguyễn Văn N đang sử dụng theo bản đồ dải thửa 299 là một phần thửa đất số 430, tờ bản đồ số 4. Trên bản đồ 299 và bản đồ địa chính xã B đều không thể hiện có con đường và mương thoát nước đi qua hai thửa đất. Tại Công văn số 354/CV - TNMT ngày 26/8/2024 của Phòng Tài Nguyên & Môi trường huyện Đ xác định hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DĐ 707513, cấp ngày 27/12/2021 cấp cho ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17, diện tích 644m² đất ONT+CLN được cấp theo đúng trình tự, quy định của pháp luật (kèm theo công văn là toàn bộ bản sao hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Người làm chứng ông Nguyễn Thế C1 là hộ liền kề với gia đình anh Nguyễn Văn N và ông Quách Xuân H xác định mương thoát nước được gia đình ông H xây dựng từ năm 1990, khi đó ông C1 được gia đình ông H nhờ xây hộ mương thoát nước, khi xây dựng mương thoát nước ông C1 chỉ thấy mình gia đình ông H xây dựng, không thấy gia đình nào khác cùng xây mương thoát nước. Phía ông T và anh N cho rằng do gia đình ông T chuyển lối đi nên đã cho đất gia đình ông H, đồng thời ông H phải xây cho nguyên đơn 01 đường thoát nước nhưng ngoài lời khai của nguyên đơn ra không có tài liệu nào khác chứng minh có con đường đi qua thửa đất số 385 do gia đình ông H đang sử dụng. Phía ông H xác định mương thoát nước do gia đình ông H xây dựng trên phần đất của gia đình ông để thoát nước trước đây do gia đình ông, anh N không có đường thoát nước nên gia đình ông cho thoát nước nhờ khi hai bên chưa có mâu thuẫn, khi gia đình ông phá tường rào cũ xây lại tường rào mới thì gia đình anh N ngăn cản không cho xây lại. Vì vậy có thể khẳng định mương thoát nước nằm trên thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17 đã cấp quyền sử dụng cho vợ chồng ông H và một phần mương thoát nước nằm trên phần diện tích đất vợ chồng ông H nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh N tại thửa đất số 412, tờ bản đồ số 17 thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H.
Tuy nhiên qua xác minh và xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất gia đình anh N đang sử dụng nằm phía trong thửa đất gia đình ông H, gia đình anh N không có đường thoát nước thải nào khác để ra đến mương chung của làng. Từ trước đến nay gia đình anh N vẫn thoát nước nhờ qua mương nước này để ra đến mương làng. Căn cứ theo quy định tại Điều252 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Trường hợp do vị trí tự nhiên của bất động sản mà việc cấp, thoát nước buộc phải qua một bất động sản khác thì chủ sở hữu có bất động sản chảy qua phải giành một lối cấp thoát nước thích hợp không được cản trở hoặc ngăn chặn dòng nước chảy...”. Theo quy định trên thì yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn cho thoát nước qua thửa đất thuộc quyền sử dụng của bị đơn ra đến mương thoát nước chung của làng có căn cứ để chấp nhận một phần.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn với yêu cầu tranh chấp mương thoát nước của nguyên đơn thì thấy: Với nhận định như trên thì mương thoát nước nằm trên phần đất ủy ban nhân dân huyện Đ cấp quyền sử dụng cho gia đình ông H và một phần đất phía ông H đã nhận chuyển nhượng của gia đình anh N, chị G. Nhưng theo quy định của pháp luật cần thiết phải tiếp tục duy trì mương thoát nước chung cho cả hai gia đình cùng thoát nước thải sinh hoạt ra đến mương chung của làng, vì hộ gia đình anh N ở phía trong không còn đường thoát nước nào khác. Mặt khác tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh N và gia đình ông H có thỏa thuận tiếp tục duy trì mương thoát nước cho gia đình anh N ra đến mương làng. Với các căn cứ và nhận định như trên thì cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc xác định mương thoát nước (có sơ đồ kèm theo) thuộc quyền sử dụng chung của hai gia đình. Do phần đất dùng làm mương thoát nước thuộc quyền sử dụng của bị đơn gia đình ông Quách Xuân H, đồng thời toàn bộ việc xây dựng mương thoát nước do bị đơn làm, nên cần buộc phía nguyên đơn thanh toán ½ giá trị đất và tiền công xây dựng, tiền nguyên vật liệu xây dựng mương thoát nước cho bị đơn ông Quách Xuân H là phù hợp.
Tại biên bản định giá ngày 8/8/2024 của Hội đồng định giá xác định:
- Mương thoát nước nước đoạn 1 nằm trên thửa 412, tờ bản đồ số 17 xây dựng năm 2020, thành mương xây bằng gạch xilicat, có giá trị còn lại là 522.240 đồng.
- Mương thoát nước đoạn 2 nằm trên thửa đất số 385, tờ bản đồ số 17 xây bằng đá quậy xây năm 1990 giá trị còn lại 172.900đồng.
- Đất ở có giá 500.000đ/m²; đất trồng cây lâu năm có giá 250.000đ/m2.
Đối với đoạn mương có diện tích 2,6m² nằm ở thửa 412, tờ bản đồ số 17 do ông H nhận chuyển nhượng của vợ chồng anh N có giá theo thỏa thuận là 63,9m² với giá 70.000.000đ. vì vậy 1m² có giá là 1.095.000đ. Để đảm bảo quyền lợi của chủ sử dụng đất thì cần thiết lấy giá thực tế các bên đã chuyển nhượng cho nhau để làm căn cứ thanh tiền giá trị đất là phù hợp. Vì vậy 14,6m² đất có giá 14,6m² x 1.095.000đ = 15.987.000đ (mười lăm triệu chín trăm tám mươi bẩy nghìn đồng).
05 công đào, xây mương x 350.000đ/công = 1.750.000đ (một triệu bẩy trăm năm mươi nghìn đồng).
Như vậy tổng giá trị tiền đất và tiền công, vật liệu xây dựng mương thoát nước là: 18.432.140đ (mười tám triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn một trăm bốn mươi đồng).
[2.2]. Xét yêu cầu phản tố của bị đơn về việc đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng 63,9m²đất trồng cây lâu năm tại thửa đất số 412, tờ bản đồ số 17 cho vợ chồng ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ thì thấy: Ngày 11/10/2020 vợ chồng chị Nguyễn Thanh G và anh Nguyễn Văn N thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Quách Xuân H 63,9m² đất tại thửa đất số 412, tờ bản đồ số 17 với giá 70.000.0000đ (bẩy mươi triệu đồng), hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B. Qua thẩm định tại chỗ và đo đạc bằng máy hiện trạng phần đất đó có diện tích 40,9m². Phần đất này anh N và chị G đã được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 545302 ngày 09/8/2019, đất không có tranh chấp, vì vậy chủ sử dụng đất có đủ điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013. Sau khi ông Quách Xuân H nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của vợ chồng anh N ông H đã tôn tạo và xây dựng các công trình kiên cố như xây tường rào, một phần mái nhà tầng 1 và tầng 2 nhà lớn đua ra trên không, đổ đất lát gạch làm sân và trồng một số cây ăn quả. Tuy nhiên ông H chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã mua của vợ chồng anh N. Quá trình giải quyết, tại biên bản hòa giải ngày 11/9/2024 và tại phiên tòa phía nguyên đơn và bị đơn đều thồng nhất việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh N và ông H đã hoàn thành. Các đương sự đều đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng 40,9m² đất tại thửa đất số 412 (có sơ đồ kèm theo) cho vợ chồng ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ được quyền sử dụng. Việc thỏa thuận trên không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận sự thỏa thuận trên cho đương sự là phù hợp.
Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí định giá tài sản và lệ phí đo vẽ bằng máy là 6.000.000đ (sáu triệu đồng) phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng. Đây là vụ án tranh chấp mương thoát nước và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất, để đảm bảo quyền lợi cho các bên đương sự cần buộc mỗi bên phải chịu ½ chi phí tố tụng. Phía nguyên đơn đã nộp tạm ứng toàn bộ chi phí, vì vậy bị đơn có trách nhiệm hoàn trả cho nguyên đơn ½ chi phí tố tụng là phù hợp.
Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí dân sự không có giá ngạch theo quy định, tuy nhiên phía bị đơn là người cao tuổi nên cần miễn án phí cho bị đơn là phù hợp.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Điều 5, khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 229 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 252 Bộ luật Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 170, Điều 202 và 203 luật đất đai luật đất đai năm 2013; Điều 2 Luật người cao tuổi; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý vụ sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của của nguyên đơn anh Nguyễn Văn N về việc tranh chấp quyền sử dụng mương thoát nước đối với phía bị đơn ông Quách Xuân H.
- Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Quách Xuân H về việc đề nghị Tòa án công nhận mương thoát nước thuộc quyền sử dụng của gia đình ông H và đề nghị Tòa án công nhận 63,9m² (đo đạc hiện trạng 40,9m²) đất ông H nhận chuyển nhượng của anh N và chị G thuộc quyền sử dụng của vợ chồng ông H.
- - Xác định mương thoát nước có chiều rộng 0,60cm diện tích 14,6 m² (sơ đồ 1,2,3,4,5,6, 1) thuộc thửa đất số 385 và thửa đất số 412, tờ bản đồ số 17 thuộc xóm Đ, xã B, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thuộc quyền sử dụng chung của vợ chồng anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thanh G và vợ chồng ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ (có sơ đồ kèm theo bản án).
- - Buộc anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thanh G thanh toán trả ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ ½ tiền giá trị 14,6m² đất và tiền vật liệu, tiền công xây dựng mương thoát nước bằng 9.216.000đ (Chín triệu hai trăm mười sáu nghìn đồng).
- - Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự về việc đề nghị Tòa án công nhận 40,9m² (sơ đồ 5,6,7,8,5) đất trồng cây lâu năm tại thửa đất 412, tờ bản đồ số 17 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 11/10/2020 thuộc quyền sử dụng của ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ. Ông H và bà Đ được quyền sử dụng 40,9m² đất (có sơ đồ 5,6,7,8,5 ), ông H và bà Đ được quyền liên hệ với cơ quan quản lý đất đai tại địa phương để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính và đăng ký biến động về quyền sử dụng đất.
Kiến nghị cơ quan quản lý đất đai điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh Nguyễn Văn N, chị Nguyễn Thanh G đối với thửa đất số 412, tờ bản đồ địa chính số 17 tại xã B và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Quách Xuân H và bà Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất 385, tờ bản đồ địa chính số 17 tại xã B theo đúng hiện trạng sử dụng đất.
- Về án và chi phí tố tụng:
- + Về chi phí thẩm định, đo vẽ bằng máy: Ông H có trách nhiệm thanh toán số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) cho anh Nguyễn Văn N.
- + Về án phí:
- - Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Quách Xuân H (người cao tuổi).
- - Anh Nguyễn Văn N chịu 460.000đ án phí dân sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước. Được trừ vào số tiền 300.000đ anh N đã nộp tại biên lai số 0005451 ngày 13/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Anh N còn phải nộp tiếp số tiền án phí còn lại là 160.000đ.
Kể từ ngày có đơn đề nghị thi hành án của người có quyền yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành nghĩa vụ thanh toán tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 BLDS, nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Ủy ban nhân dân huyện Đ) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND huyện Đại Từ; - Chi cục THADS huyện Đại Từ; - Lưu hồ sơ. |
TM. Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Duy Khánh |
Bản án số 26/2024/DS -ST ngày 24/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp mương thoát nước và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 26/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp mương thoát nước và Yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
