|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 12-9-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Kim Sơn; 2. Bà Lê Thị Bảy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Như Xuân và điểm cầu thành phần tại nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm, công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Trương Văn B; Sinh năm: 2003 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn M, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Con ông: Trương Văn Đ và bà: Lê Thị T; Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2017, bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Bị tạm giam từ ngày 18/4/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện N cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1) Anh Lê Viết C; Sinh năm: 2003; Địa chỉ: thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
2) Anh Trương Văn L; Sinh năm: 2004; Địa chỉ: thôn M, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 18/4/2024, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện N phối hợp với Công an xã X tuần tra, rà soát thì phát hiện các đối tượng gồm: Trương Văn B, Trương Văn L và Lê Viết C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của gia đình ông Trương Văn Đ (là bố đẻ của Trương Văn B và Trương Văn L). Tổ công tác tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, kiểm tra phát hiện và thu giữ: 01 điếu cày bằng nứa, 01 bật lửa gas màu đỏ tại hiện trường. Ngoài ra, Lê Viết C tự nguyện giao nộp 02 gói thực vật khô băm nhỏ (nghi là ma túy dạng Cỏ Mỹ, niêm phong ký hiệu M1), Trương Văn B tự nguyện giao nộp 01 gói thực vật khô băm nhỏ (nghi là ma túy dạng Cỏ Mỹ, niêm phong ký hiệu M2). Tổ công tác tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, trưng cầu giám định để xử lý theo quy định.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 10 giờ ngày 18/4/2024 Lê Viết C đi xe mô tô từ nhà mình đến nhà B chơi, tới nơi chỉ có L là em trai B ở nhà, C gọi điện thoại hỏi B đang ở đâu thì B trả lời đang đi cắt tóc, khoảng 30 phút sau thì B quay về nhà. C hỏi B có sử dụng Cỏ M không thì góp tiền lại để mua chung, B trả lời không. Tuy nhiên, B lại lấy từ trong túi quần ra 01 gói loại Tobaco được đựng trong túi ni lông mầu trắng, nói với C là B đã mua rồi; Đồng thời, hỏi C và L có sử dụng không, thì C và L đồng ý. Biên chuẩn bị dụng cụ gồm 01 điếu cày bằng nứa, 01 bật lửa gas mầu đỏ, rồi B lấy một ít sợi ma túy cho vào điếu cày rồi châm lửa hút trước, hút xong B đưa điếu cày, bật lửa và gói ma túy lại cho C sử dụng, khi C sử dụng xong đưa lại cho L sử dụng. Ba người lần lượt sử dụng mỗi người khoảng 03 lần thì bà Lê Thị T là mẹ đẻ của B và L gọi điện thoại, bảo đến đón bà T đi làm về, nên B đứng dậy, cầm theo gói ma túy cho vào túi quần cất giữ.
Sau khi B rời đi còn lại C và L, do vẫn có nhu cầu muốn sử dụng Cỏ Mỹ, nên C bàn với L đi cầm cố chiếc điện thoại của C để lấy tiền mua Cỏ M về sử dụng, L đồng ý. Khoảng 14 giờ cùng ngày, C gọi điện thoại qua ứng dụng Meseger cho Quách Văn H, ở thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An hỏi mua 200.000 đồng Cỏ Mỹ, H đồng ý hẹn C đến khu vực gần cổng nhà H để trao đổi mua bán. Sau khi đã liên hệ được với H, C sử dụng xe mô tô chở L đến quán Đ1 ở thôn N, xã B cầm cố chiếc điện thoại được 300.000 đồng, rồi chở L đến gặp H, C đưa cho H 200.000 đồng, H đưa cho C 03 gói sợi thực vật khô, C và L quay trở về, khi đó thì B cũng đã có mặt ở nhà, C hỏi B có sử dụng tiếp không, B đồng ý, cả 3 người cùng sử dụng hết 01 gói sợi thực vật khô do C mới mua được của H; đến khoảng hơn 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an phát hiện.
Truy nguồn gốc số ma túy của Trương Văn B tổ chức cho C và L sử dụng xác định: khi đi cắt tóc, B nẩy sinh ý định mua ma túy về để sử dụng nên đã mượn điện thoại của người không quen biết đang chờ cắt tóc nhắn tin qua ứng dụng Mesenger cho người có nich Facebook “Nguyễn Thanh B1” hỏi mua 150.000 đồng ma túy thường gọi là Cỏ M, người đó hẹn B đến khu vực giáp ranh giữa Thanh Hóa và Nghệ An, để nhận ma túy. B xin đi nhờ xe của người đi đường đến điểm hẹn, gặp một người đàn ông không quen biết, đeo kính và đeo khẩu trang đến đưa cho B 01 túi ni lông mầu trắng bên trong là ma túy loại Cỏ Mỹ, B thanh toán tiền 150.000 đồng, rồi xin xe trở về nhà, sau đó chuẩn bị công cụ rồi cùng với C và L sử dụng ma túy. Xác minh nich Facebook của Nguyễn Thanh B1, sinh năm 2005 tại xã N, huyện N xác định đã bị hack nick chủ tài khoản hiện tại không dùng được.
Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Trương Văn B không phát hiện và thu giữ vật chứng có liên quan đến vụ án.
Khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Quách Văn H, phát hiện thu giữ 03 vỏ túi ni lông chứa các vụn thực vật khô H khai là Cỏ M, Cơ quan điều tra thu giữ, niêm phong để xác minh xử lý theo quy định.
Thu giữ mẫu nước tiểu của: Lê Viết C, Trương Văn B, Trương Văn L và Quách Công H1, tiến hành trưng cầu giám định. Tại bản Kết luận giám định số 2703/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của V Bộ C1 kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Viết C, Trương Văn B, Trương Văn L, và Quách Công H1 gửi giám định.
Trưng cầu giam định điếu cày, bật lửa gas thu giữ tại hiện trường; Bản kết luận giám định số 2702/KL-KTHS ngày 17/4/2024 của V Bộ C1 kết luận:
- Không tìm thấy chất ma túy bám dính trên bề mặt bật lửa gas ký hiệu M3 gửi giám định.
- Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu chất mầu đen bám dính trên bộ phận nỏ điếu cày và mẫu chất lỏng mầu vàng bên trong điếu cầy gửi giám định.
Kiểm tra hành chính, Lê Viết C tự nguyện giao nộp 02 gói thực vật khô băm nhỏ (nghi là ma túy dạng Cỏ Mỹ, niêm phong ký hiệu M1); Trương Văn B tự nguyện giao nộp 01 gói thực vật khô băm nhỏ (nghi là ma túy dạng Cỏ Mỹ, niêm phong ký hiệu M2). Trưng cầu giám định.
Bản kết luận giám định số 2704/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của V Bộ C1 kết luận:
- Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu thực vật khô, ký hiệu M2 gửi giám định. Khối lượng mẫu là 1,221 gam, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,006 gam.
- Không tìm thấy chất ma túy trong các mẫu thực vật khô, ký hiệu M1 gửi giám định, khối lượng mẫu 1,850 gam. Tìm thấy chất MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA có tác dụng tương tự Delta 9-THC trong cần sa thực vật, hiện chưa nằm trong Danh mục chất ma túy, tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Quách văn H thu giữ 03 túi ni lông, bên trong còn dính các mẫu vụn thực vật khô, niêm phong ký hiệu M6 trưng cầu giám định;
Bản kết luận giám định số 2705/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của V Bộ C1 kết luận: Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu vụn thực vật khô bám dính trong 03 túi nilon ký hiệu M6 gửi giám định. Tổng khối lượng mẫu 0,095 gam. Tìm thấy chất MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA có tác dụng tương tự Delta 9-THC trong cần sa thực vật, hiện chưa nằm trong Danh mục chất ma túy, tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKSNX ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Trương Văn B, về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trương Văn B, phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Trương Văn B mức án từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
- Không áp dụng khoản 5 Điều 255 BLHS làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Về phần vật chứng: căn cứ Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy 01 phong bì do V Bộ C1 phát hành, bên trong phong bì có 1,052 gam mẫu là ma túy, vật chứng của vụ án sau giám định; 01 Phong bì niên phong, bên trong phong bì có 01 vỏ bật lửa gas; 01 Điếu cày. Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá.
Án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 BLHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 236 của UBTVQH về án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phần tranh luận bị cáo không có ý kiến gì. Lời nói sau cùng bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội, biên bản thu giữ vật chứng, cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng hơn 10 giờ ngày 18 tháng 4 năm 2024, trong lúc đi cắt tóc, Trương Văn B nảy sinh ý định tìm mua ma túy về nhà để sử dụng nên đã liên lạc với một người không quen biết trên facebook để mua 01 gói ni long mầu trắng bên trong là ma túy loại MDMB-4en-PINACA, tại khu vực giáp ranh giữa Thanh Hóa và Nghệ An rồi đem về nhà ở của mình. Tại nhà mình, B chuẩn bị công cụ gồm 01 điếu cày và 01 bật lửa gas để sử dụng và tổ chức cho 02 người khác là Lê Viết C và Trương Văn L cùng sử dụng. Hình thức sử dụng là cho chất ma túy vào nỏ điếu cày rồi châm lửa hút. Cơ quan điều tra thu giữ 1,221 gam mẫu thực vật khô, khối lượng chất ma túy MDMB-4en-PINACA: 0,006 gam, của Trương Văn B tàng trữ để cùng với người khác sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo Trương Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, bị xã hội lên án, phẫn nộ. Xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ý thức tuân theo pháp luật đồng thời để răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Trương Văn B không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình nhân thân bị cáo có 1 lần bị xử phạt hành chính vào Ngày 26/9/2017, hình thức là cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản”, nên Hội đồng xét xử cần quyết định cho bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp. Ngoài ra, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[5] Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập thường xuyên, hoàn cảnh gia đình bị cáo hiện gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Xét về vật chứng:
- Đối với: 01 phong bì do V Bộ C1 phát hành, bên trong phong bì có 1,052 gam mẫu là ma túy, vật chứng của vụ án sau giám định, được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, chữ viết của Lê Duy T1, Nguyễn Thị Thu L1 và các hình dấu đỏ của V Bộ C1; 01 Phong bì niên phong, bên trong phong bì có 01 vỏ bật lửa gas; 01 Điếu cày được niêm phong bởi các các chữ ký, chữ viết của Lê Duy T1, Nguyễn Thị Thu L1 và các hình dấu đỏ của V Bộ C1. Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng số 34/2024/TSTV ngày 16/8/2021 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân. Đây là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
[7] Về các vấn đề khác:
- Đối với Lê Viết C, Trương Văn L và Quách Công H1 kết luận giám định: Tìm thấy chất ma túy MDMB-4en-PINACA trong mẫu nước tiểu. Tuy nhiên, chưa có căn cứ xác định các đối tượng trên là người nghiện nên Cơ quan điều tra Công an huyện N chuyển giao tài liệu hồ sơ đến Ủy ban nhân dân xã, để Công an xã theo dõi quản lý các đối tượng theo quy định. Ngoài ra Lê Viết C, Trương Văn L, và Quách Công H1 còn có hành vi mua bán tàng trữ sợi thực vật khô. Tìm thấy chất MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA có tác dụng tương tự Delta 9-THC trong cần sa thực vật, hiện chưa nằm trong Danh mục chất ma túy, tiền chất theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ nên không bị xử lý là phù hợp.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô và số tiền 200.000 đồng C xử dụng để mua thực vật khô không phải là vật chứng của vụ án nên đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- Đối với người dàn ông bán ma túy cho B và người cho B đi nhờ xe đến điểm hẹn giao nhận ma túy; căn cứ lời khai của bị cáo, Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh xử lý. Hội động xét xử không xét.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn B phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trương Văn B 07 (Bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 18/4/2024.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 1; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu để tiêu hủy 01 phong bì do V Bộ C1 phát hành, bên trong phong bì có 1,052 gam mẫu là ma túy, vật chứng của vụ án sau giám định; 01 Phong bì niên phong, bên trong phong bì có 01 vỏ bật lửa gas và 01 Điếu cày bằng nứa. Số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hoá theo biên bản giao nhận vật chứng số 34/2024/TSTV ngày 16/8/2021 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không xem xét.
Về phần án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Điều 6; khoản 1 Điều 21 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Văn B phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày tròn, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Công Tuấn |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn B, phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
