Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 28 – 8 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp.

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Ông Trần Văn Phước.
  • Ông Trần Thanh Tuấn;

– Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long tham gia phiên toà: Ông Trần Tấn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Văn K, sinh ngày 01/01/1985 tại huyện C, tỉnh Cà Mau; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chổ ở hiện nay: ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Không nghề; Trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H, sinh năm 1963 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1966; vợ: Huỳnh Thị D; con: Lê Chí L, sinh năm 2014; tiền án: Có 03 tiền án (Chấp hành xong ngày 29/12/2023 chưa được xóa án tích); tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay (Bị cáo có mặt).

– Bị hại:

  • + Bà Lê Thị Ngọc C, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
  • + Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1980 (Vắng mặt).
  • Địa chỉ: ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào ngày 02/5/2024, bị cáo Lê Văn K điều khiển xe mô tô biển số 69AD-090.41 đi từ huyện C, tỉnh Cà Mau đến xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu tìm người quen nhưng không gặp. Sau đó, bị cáo K điều khiển xe mô tô trên quay về tỉnh Cà Mau, khi đến địa phận thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo K ghé vào quán nước để uống nước, tại đây bị cáo K gặp và làm quen một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) ngồi bàn bên cạnh, trao đổi nói chuyện qua lại người này, người này rủ bị cáo K đi đánh bài ăn thua bằng tiền, bị cáo K đồng ý. Do không biết đường đi nên bị cáo K điều khiển xe mô tô 69AD-090.41 đến Trung tâm Y tế huyện P gửi và đi cùng với người thanh niên trên.

Khi đến địa điểm chơi đánh bài ăn thua bằng tiền (bị cáo K không nhớ địa chỉ cụ thể) tất cả cùng chơi, bị cáo K bị thua hết tiền nên ra về trước, bị cáo K đi bộ dọc theo tuyến lộ nông thôn đi về hướng thị trấn P, trên đường đi bị cáo K nảy sinh ý định tìm tài sản của người khác để sơ hở trộm bán lấy tiền chi xài cá nhân. Đến khoảng 03 giờ ngày 03/5/2024, bị cáo K nhìn thấy nhà bà Nguyễn Thị T cửa trước khoá, cửa sau mở không người trông coi, bị cáo K lén lút đi vào lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung đang sạc pin trước cửa phòng ngủ, sau đó bị cáo K tiếp tục đi vào căn phòng ngủ thứ hai lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen và một con heo đất để ở góc phòng. Sau khi lấy trộm được tài sản tại nhà bà T, trên đường đi bị cáo K bỏ lại một điện thoại di động nhãn hiệu SamSung đã cũ, bị cáo K đem số tài sản vừa trộm được đến khu vực nền mộ gần nhà bà T đập con heo đất ra bên trong có số tiền Việt Nam đang lưu hành 1.200.000 đồng, bị cáo K cất giấu những tài sản trên tại đây. Sau đó, bị cáo K tiếp tục đến nhà bà Trần Thị Cẩm N (cạnh nhà bà T), thấy cửa nhà sau mở, bị cáo K lén lút vào lấy trộm 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO loại màn hình cảm ứng để trên bếp nhà sau, 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung tại phòng ngủ của bà Cẩm N rồi đi ra chổ nền mộ nơi cất giấu số tài sản lấy trộm trước đó, bị cáo K lấy số tiền 1.200.000 đồng cho vào ốp lưng điện thoại nhãn hiệu Samsung vừa lấy trộm của bà Trần Thị Cẩm N. Khi cất giấu xong các tài sản vừa trộm được, bị cáo K đi bộ vòng lên phía lộ xi măng tìm đường về thì bị bà Đỗ Kiều M (nhà cập nhà bà Cẩm N) phát hiện truy hô “Trộm, trộm, trộm”, bị cáo K liền bỏ chạy. Nghe tiếng tri hô của bà Đỗ Kiều M, ông Nguyễn Văn G, Đỗ Văn ĐNguyễn Văn T1 truy đuổi và bắt được bị cáo Lê Văn K cùng số tang vật trên giao cho Công an xã V, huyện P giải quyết. Tại Cơ quan Công an xã V, bị cáo Lê Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tôi của minh như nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 23/KL-HĐĐGTS, ngày 09 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+ có giá 1.700.000 đồng; 01 (một) ốp lưng điện thoại màu nâu có giá 48.333 đồng; 01 (một) sim điện thoại, loại sim Viettel co giá 95.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu vàng và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen (không xác định được tên máy, không có hóa đơn mua bán, không nhớ ngày mua cụ thể và không thu hồi được), Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P không xác định được giá. Tổng tài sản đưa ra định giá có giá là 1.843.333 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 24/KL-HĐĐGTS, ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3, màu nâu có giá 383.333 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, màu đen có giá 1.583.333 đồng; 02 (hai) sim điện thoại, loại sim Vinaphone có giá 200.000 đồng; 01 (một) con heo đất (loại heo đất để đựng tiền tiết kiệm), do không thu được, Hội đồng định giá không xác định được giá trị tài sản. Tổng tài sản đưa ra định giá 2.166.666 đồng.

Vật chứng vụ án:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+; 01 (một) ốp lưng điện thoại; 01 (một) sim điện thoại, loại sim Viettel; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J3; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11; 02 (hai) sim điện thoại, loại sim Vinaphone; tiền Việt Nam đang lưu hành 1.230.000 đồng.

01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu Samsung màu xanh rêu, điện thoại có ốp lưng; 01(một) cây tuốc nơ vít màu đỏ-đen; 01 (một) nón bo vải màu đen; 01 (một) khẩu trang vải màu đen ( có sọc ca rô màu trắng); 01 (một) đôi vớ chân (tất) màu xám; 01 (một) đôi bao tay màu đen (có viềng màu xanh dương); 01 (một) áo sơ mi nam, ca rô màu xanh đen; 01 (một) áo khoác nam màu đen; 01 (một) chìa khoá xe; 01 (một) bao đập nước đá màu tím; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu nâu da bò; 01 (một) dây thắt lưng màu nâu da bò; 01 (một) quần Jean nam màu xanh đen.

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE ALPHA, biển số đăng ký 69AD-090.41; 01 (một) căn cước công dân tên Lê Văn K; Tiền Việt Nam đang lưu hành 1.200.000 đồng (một triệu, hai trăm nghìn đồng).

Riêng 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO của chị Trần Thị Cẩm N bị mất trộm còn lại, Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Tại bản Cáo trạng số: 25/CT-VKS ngày 12/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Phước Long giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm:

Truy tố bị cáo Lê Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Lê Văn K Phạm tội “ Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn K mức án từ 03 năm, đến 03 năm 06 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự theo quy định.

Bị cáo thống nhất quan điểm của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hành vi của bị cáo thể hiện: Để có tiền chi xài cá nhân, vào khoảng 03 giờ ngày 03/5/2024, tại ấp H, xã V huyện P, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Lê Văn K lợi dụng bà Nguyễn Thị T và bà Trần Thị Cẩm N sơ hở trong việc quản lý tài sản, lén lút lấy trộm của bà T 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung và 01 con heo đất bên trong có số tiền Việt Nam đang lưu hành 1.200.000 đồng; bà Cẩm N 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung. Tổng giá trị tài sản bị cáo Lê Văn K chiếm đoạt vào ngày 03/5/2024 là 5.209.999 đồng.

[2.2] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Văn K là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và cũng chính bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác một cách có ý thức và chủ động. Do bản tính tham lam, lười biếng lao động, thích hưởng thụ trên thành quả lao động của người khác nên bị cáo bất chấp pháp luật lao vào con đường phạm tội.

[2.3] Hành vi của bị cáo là lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu, bị cáo lén lút trộm cắp tài sản của người khác trong khi bị cáo chưa được xóa án tích về tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Bị cáo biết rõ hành vi lén lút, chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó, gây mất trật tự trị an tại địa phương mà bị cáo vẫn cố tình thực hiện và thực hiện đến hoàn thành tội phạm. Vì vậy, Hội đồng xét xử nghĩ cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, tương xứng với hành vi của bị cáo đã gây ra, nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long mới đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội và cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở về chung sống với cộng đồng, xã hội, là người có ích cho gia đình và cho xã hội.

[2.4] Xét về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[2.5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan thu giữ gồm:

01(một) cây tuốc nơ vít màu đỏ - đen; 01 (một) nón bo vải màu đen; 01 (một) khẩu trang vải màu đen ( có sọc ca rô màu trắng); 01 (một) đôi vớ chân (tất) màu xám; 01 (một) đôi bao tay màu đen (có viềng màu xanh dương); 01 (một) áo sơ mi nam, ca rô màu xanh đen; 01 (một) áo khoác nam màu đen; 01 (một) bao đập nước đá màu tím; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu nâu da bò; 01 (một) dây thắt lưng màu nâu da bò; 01 (một) quần Jean nam màu xanh đen. Do không còn giá trị sử dụng, bị cáo không yêu cầu nhận lại nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

Đối với 01 (một) căn cước công dân tên Lê Văn K; 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu Samsung màu xanh rêu, điện thoại có ốp lưng; 01 (một) chìa khoá xe; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE ALPHA, biển số đăng ký 69AD-090.41; Tiền Việt Nam đang lưu hành 1.230.000 đồng (một triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng), đây là tài sản không liên quan đến vụ án, bị cáo có nhu cầu nhận lại nên áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.

[2.6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.7] Đối với lời khai của bị cáo Lê Văn K về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức thắng thua bằng tiền thì ngoài lời khai của bị cáo Lê Văn K, không có tài liệu nào khác chứng minh nên không đề cập xem xét xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.8] Án phí hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTTVQH buộc bị cáo Lê Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn K 03 năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày 03/5/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

01(một) cây tuốc nơ vít màu đỏ - đen; 01 (một) nón bo vải màu đen; 01 (một) khẩu trang vải màu đen ( có sọc ca rô màu trắng); 01 (một) đôi vớ chân (tất) màu xám; 01 (một) đôi bao tay màu đen (có viềng màu xanh dương); 01 (một) áo sơ mi nam, ca rô màu xanh đen; 01 (một) áo khoác nam màu đen; 01 (một) bao đập nước đá màu tím; 01 (một) đôi dép quai kẹp màu nâu da bò; 01 (một) dây thắt lưng màu nâu da bò; 01 (một) quần Jean nam màu xanh đen.

Trả lại cho bị cáo:

01 (một) căn cước công dân tên Lê Văn K; 01 (một) điện thoại di động loại cảm ứng, hiệu Samsung màu xanh rêu, điện thoại có ốp lưng; 01 (một) chìa khoá xe; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE ALPHA, biển số đăng ký 69AD-090.41;

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12 tháng 8 năm 2024, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phước Long).

Tiền Việt Nam đang lưu hành 1.230.000 đồng (một triệu, hai trăm ba mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001278 ngày 12 tháng 8 năm 2024.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số: 326 ngày 30/12/2016 của UBTTVQH buộc bị cáo Lê Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm hình sự công khai có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - Viện KSND huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - CQĐT Công an huyện Phước Long;
  • - Phòng HSNVcông an huyện Phước Long;
  • - Người tham gia tô tụng;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử bị cáo 03 (ba) năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger