TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
B Bản án số: 26/2024/KDTM - ST
Ngày 23/8/2024
"V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Mười.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngà và ông Đào Văn Khanh.
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Lê Tiến Đạt – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lâm tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng – Kiểm sát viên.
Ngày 23/8/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 32/2023/TLST - KDTM ngày 26/12/2023 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST- KDTM ngày 09/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (viết tắt là Ngân hàng).
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn A – Phó Giám đốc Trung tâm xử lý nợ.
Địa chỉ liên lạc: Tầng G Tòa nhà V, Số G D, quận C, Thành phố Hà Nội.
Người được ủy quyền lại: Ông Trương Công T, Cán bộ xử lý nợ, có mặt.
Văn bản ủy quyền số 24/2023/UQ-LCC-KHDNMB1, ngày 28/6/2023.
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ (viết tắt là Công ty).
Địa chỉ: Số F Phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
Đại diện theo pháp luật: Ông Phùng Văn T1 – Tổng Giám đốc, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Văn T1, sinh năm 1988, đồng thời là đại diện theo pháp luật của bị đơn, vắng mặt. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai tại phiên tòa, đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Giữa Ngân hàng và Công ty ký kết Hợp đồng tín dụng số 300318-4582483-01-SME ngày 31/3/2018, Hợp đồng tài khoản thẻ tín dụng, theo đó Ngân hàng cho Công ty V1 số tiền là 2.999.371.750 đồng (Hai tỷ, chín trăm chín mươi chín triệu, ba trăm bẩy mươi mốt nghìn, bẩy trăm năm mươi đồng), thời hạn vay từ ngày 31/3/2018 đến ngày 31/3/2021, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh; lãi suất cho vay được hai bên thỏa thuận theo cung cầu vốn của thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của bên vay và được quy định cụ thể trong khế ước nhận nợ, tại khế ước nhận nợ là 18,9%/năm, mức lãi suất cố định trong tháng đầu tiên, sau được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng lãi suất bán vốn của bên Ngân hàng do hội sở chính áp dụng với khoản giải ngân có kỳ hạn 05 tháng và kỳ điều chỉnh lãi suất là 01 tháng tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 12.6%/năm. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Biện pháp bảo đảm: Giữa Ngân hàng với ông Phùng Văn T1 ký hợp đồng bảo lãnh số 310318/HĐBL/VPBANK-01-SME, ngày 31/3/2018, theo đó ông T1 cam kết dùng toàn bộ tài sản cá nhân để bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa Công ty với Ngân hàng. Giữa các bên không có thỏa thuận cụ thể toàn bộ tài sản là những tài sản gì, đặc điểm, địa chỉ tài sản, mà là thỏa thuận để sau này Ngân hàng có thể đề nghị cơ quan thi hành án xác minh và thi hành tài sản cá nhân của ông Phùng Văn T1.
Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân số tiền cho vay, bên vay cũng đã thực hiện nghĩa vụ trả một phần tiền gốc, lãi; tuy nhiên sau đó Công ty đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Tính đến ngày 09/8/2024 Công ty còn nợ số tiền gốc là 347.430.954 đồng (Ba trăm bốn mươi bẩy triệu, bốn trăm ba mươi nghìn, chín trăm năm mươi tư đồng), số tiền lãi gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn là 413.929.894 đồng (Bốn trăm mười ba triệu, chín trăm hai mươi chín nghìn, tám trăm chín mươi tư đồng), tiền phạt chậm trả lãi là 65.702.490 đồng (Sáu mươi lăm triệu, bẩy trăm hai mươi nghìn, bốn trăm chín mươi đồng).
Tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu Công ty thanh toán số tiền gốc là 347.430.954 đồng (Ba trăm bốn mươi bẩy triệu, bốn trăm ba mươi nghìn, chín trăm năm mươi tư đồng), số tiền lãi tính đến hết ngày 23/8/2024 gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn là 418.379.174 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 765.810.128 đồng (Bẩy trăm sáu mươi lăm triệu, tám trăm mười nghìn, một trăm hai mươi tám đồng).
Ngân hàng tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi phạt chậm trả lãi, số lãi phạt chậm trả lãi tính đến hết ngày 23/8/2024 là 67.033.093 đồng (Sáu mươi bẩy triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, không trăm chín mươi ba đồng).
- Tại Biên bản làm việc ngày 19/8/2024 giưa Ngân hàng và ông Phùng Văn T1, các bên nhất trí về việc ký kết các giao dịch hợp đồng, nhất trí về số nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn như Ngân hàng trình bày. Ông T1 không nhất trí với yêu cầu lãi phạt chậm trả lãi của Ngân hàng. Ông T1 trình bày, do Công ty và cá nhân ông T1 gặp khó khăn trong kinh doanh, nên Công ty và ông T1 chưa thanh toán được ngay theo yêu cầu của Ngân hàng.
Tòa án đã thông báo phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, do bị đơn vắng mặt, không hòa giải được, tại buổi làm việc ngày 19/8/2024 các bên cũng không thống nhất được với nhau, nên phải đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Về thủ tục tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã chấp hành nghiêm chỉnh và thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, Điều 466, Điều 335, Khoản 1 Điều 239, Điều 342 Bộ luật Dân sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ thanh toán số tiền nợ gốc cho Ngân hàng là 347.430.954 đồng (Ba trăm bốn mươi bẩy triệu, bốn trăm ba mươi nghìn, chín trăm năm mươi tư đồng), số tiền lãi tính đến hết ngày 23/8/2024 gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn là 418.379.174 đồng. Tổng cả gốc và lãi là 765.810.128 đồng (Bẩy trăm sáu mươi lăm triệu, tám trăm mười nghìn, một trăm hai mươi tám đồng).
- Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Phùng Văn T1 thanh toán thay Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
- Kể từ ngày 24/8/2024 Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ vẫn phải chịu lãi suất nợ quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
- Đình chỉ xét xử phần Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện về số tiền lãi phạt chậm trả lãi là 67.033.093 đồng (Sáu mươi bẩy triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, không trăm chín mươi ba đồng).
- Về án phí: Buộc đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm nhận định;
- Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại Cổ phần V khởi kiện đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ về tranh chấp Hợp đồng tín dụng, đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, do cần thu thập chứng cứ liên quan đến địa chỉ của bị đơn, nên Tòa án phải tạm đình chỉ vụ án, sau khi lý do tạm đình chỉ không còn, vụ án được tiếp tục giải quyết là phù hợp pháp luật.
Tại phiên tòa bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự là có căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng: Căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Biên bản làm việc giữa các đương sự đều thừa nhận có ký kết hợp đồng tín dụng, nhất trí về số nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn như Ngân hàng trình bày trên, nên có đủ căn cứ buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ thanh toán số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn như Ngân hàng yêu cầu tại phiên tòa là phù hợp.
Đối với phần Ngân hàng yêu cầu số tiền lãi phạt chậm thanh toán lãi là 67.033.093 đồng (Sáu mươi bẩy triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, không trăm chín mươi ba đồng), đây là số tiền lãi chồng lãi, chưa phù hợp quy định của pháp luật, tại phiên tòa Ngân hàng tự nguyện rút một phần yêu cầu khởi kiện về số tiền này, Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ phần rút yêu cầu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Về biện pháp bảo đảm: Giữa Ngân hàng với ông Phùng Văn T1 ký hợp đồng bảo lãnh số 310318/HĐBL/VPBANK-01-SME, ngày 31/3/2018, theo đó ông T1 cam kết dùng toàn bộ tài sản cá nhân để bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng giữa Công ty với Ngân hàng, việc ký kết là tự nguyện, phù hợp pháp luật. Do vậy Ngân hàng có quyền yêu cầu ông Phùng Văn T1 thanh toán thay cho Công ty trong trường hợp Công ty không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ cho Ngân hàng.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án lệ phí của Tòa án, sẽ buộc đương sự phải chịu án phí án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 463, Điều 466, Điều 335, Khoản 1 Điều 239, Điều 342 Bộ luật Dân sự.
- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần V.
Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ thanh toán số tiền nợ gốc cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V là 347.430.954 đồng (Ba trăm bốn mươi bẩy triệu, bốn trăm ba mươi nghìn, chín trăm năm mươi tư đồng), số tiền lãi tính đến hết ngày 23/8/2024 gồm lãi trong hạn, lãi quá hạn là 418.379.174 đồng. Tổng cả gốc và lãi phải thanh toán là 765.810.128 đồng (Bẩy trăm sáu mươi lăm triệu, tám trăm mười nghìn, một trăm hai mươi tám đồng).
Trường hợp Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ, Ngân hàng Thương mại Cổ phần V có quyền yêu cầu ông Phùng Văn T1 thanh toán thay Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ.
Kể từ ngày 24/8/2024 khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Đình chỉ xét xử phần Ngân hàng Thương mại Cổ phần V rút yêu cầu khởi kiện đối với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ, về thanh toán số tiền lãi phạt chậm trả lãi là 67.033.093 đồng (Sáu mươi bẩy triệu, không trăm ba mươi ba nghìn, không trăm chín mươi ba đồng).
- Về án phí: Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ phải chịu 34.632.000 đồng (Ba mươi tư triệu, sáu trăm ba mươi hai nghìn đồng) án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần V 14.563.000 đồng (Mười bốn triệu, năm trăm sáu mươi ba nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 1759, ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, lên Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên, để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Văn Mười |
Bản án số 26/2024/KDTM - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÂM, TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng VP Bank - Tân Cường
