TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/6/2024 V/v "Tranh chấp ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thanh Thủy
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Phạm Công Lương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na - Kiểm sát viên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Tới – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Thanh T - sinh năm 1989. Có mặt
Địa chỉ: Tổ E, phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Huỳnh Ngọc M - Sinh năm 1982. Vắng mặt
Địa chỉ: K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa bà Trịnh Thị Thanh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trịnh Thị Thanh T và ông Huỳnh Ngọc Minh đăng K kết hôn vào năm 2012 tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.
Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do không cùng quan điểm sống. Vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường ngày không trao đổi, tâm sự với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài và ngày càng trầm trọng nên bà T đã chuyển về sống cùng ba mẹ của bà. Ông bà đã ly thân hơn một năm nay. Đến nay, bà T xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông M, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, bà mong muốn Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông M.
- Về con chung: Bà T và ông M có 01 con chung tên Huỳnh Bảo N – sinh ngày 09/8/2012. Ly hôn, bà T yêu cầu giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên.
- Về tài sản chung: Bà T xác định không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà T xác định không có nợ chung.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải, tuy nhiên ông Huỳnh Ngọc M vẫn vắng mặt không có lý do. Đồng thời không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Kết quả xác minh tại tổ dân phố nơi ông M và bà T từng sống chung xác định, ông M và bà T trước đây có chung sống tại K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, từ gần 2 năm nay bà T đã đi khỏi địa chỉ trên, vợ chồng không chung sống nữa. Về tình trạng và nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng thì tổ dân phố không nắm rõ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu: Tại phiên tòa bị đơn - ông Huỳnh Ngọc M vắng mặt không có lý do. Dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt ở phiên tòa lần thứ hai nên căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử vắng mặt bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn và nuôi con là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị Thanh T đối với ông Huỳnh Ngọc M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Do bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ 2 mà không có lý do, nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp: Ông Huỳnh Ngọc M và bà Trịnh Thị Thanh T đăng ký kết hôn vào năm 2012 tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
[3] Xét yêu cầu của bà T thì thấy: Quá trình chung sống, do tính tình, quan điểm sống không phù hợp, dẫn đến ông M và bà T phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng đã sống ly thân hơn một năm nay, không quan tâm, không giao tiếp với nhau. Mâu thuẫn đã kéo dài và không thể khắc phục. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hòa giải nhưng ông M vẫn không có mặt, không có ý chí muốn hàn gắn quan hệ. Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử đã phân tích pháp lý và tình cảm cho bà T nhưng bà vẫn kiên quyết xin ly hôn, xác định không còn tình cảm, không thể sống chung với ông M. Xét thấy tình cảm vợ chồng cần phải vun đắp từ hai phía mới đảm bảo cuộc sống chung hạnh phúc, nhưng tình trạng hôn nhân giữa bà T và ông M đã mâu thuẫn kéo dài và trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T là phù hợp với Điều 51 và 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về quan hệ con chung: Ông M và bà T có 01 con chung tên Huỳnh Bảo N – sinh ngày 09/8/2012. Bà T có nguyện vọng được giao con chung cho ông M trực tiếp nuôi dưỡng. HĐXX xét thấy, cháu N hiện đang sống cùng ông M ổn định tại K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Quá trình lấy lời khai của cháu N, cháu trình bày nguyện vọng muốn được ở với ba nên tiếp tục giao cháu cho ông M nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đồng mỗi tháng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung thành niên. HĐXX nhận thấy nguyên đơn hiện có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện cấp dưỡng nuôi cháu N và việc thực hiện cấp dưỡng nuôi con sẽ đảm bảo cho cháu N có cuộc sống vật chất, tinh thần tốt hơn nên cần chấp nhận.
[5] Về tài sản chung: Bà T xác định không có tài sản chung, ông M không có ý kiến gì nên HĐXX không đề cập đến.
[6] Về nợ chung: Bà T xác định vợ chồng không có nợ chung, ông M không có ý kiến gì nên HĐXX không đề cập đến.
[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con bà Trịnh Thị Thanh T phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Thanh T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với ông Huỳnh Ngọc M.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: bà Trịnh Thị Thanh T được ly hôn với ông Huỳnh Ngọc M.
Về quan hệ con chung: Giao con chung Huỳnh Bảo N, sinh ngày 09/8/2012 cho ông Huỳnh Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 5.000.000 đồng của bà Trịnh Thị Thanh T. Thời gian cấp dưỡng kể từ khi ly hôn cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.
Kể từ ngày ông M có đơn yêu cầu thi hành án mà bà T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thì hàng tháng bà T còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Sau ly hôn, quyền và nghĩa vụ đối với con chung các bên thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 83 luật Hôn nhân và gia đình.
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Trịnh Thị Thanh T phải chịu; được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí HNGĐ bà T đã nộp theo biên lai thu số 0000074 ngày 18/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
Án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng bà Trịnh Thị Thanh T phải chịu.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Thủy |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trịnh Thị Thanh T về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” đối với ông Huỳnh Ngọc M
