Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DS-PT

Ngày 16 tháng 5 năm 2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Điêu Thị Bích Lượt

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hán Hưởng

Bà Lê Thị Thu Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 80/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 83/2023/QĐ-PT ngày 27/11/2023 và các quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị L, sinh năm 1955

Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, phố G, tổ D, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

Bị đơn: Ông Đặng Hữu N, sinh ngày 09/4/1963

Địa chỉ: Khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1955

Địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, phố G, tổ D, khu E, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;

2/ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970

Địa chỉ: Khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Đặng Hữu N và bà Nguyễn Thị T1: Ông Tạ Gia L1 và ông Nguyễn Bằng G, Luật sư Văn phòng L2 và cộng sự - Đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ: Số nhà G, tổ F, khu A, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người làm chứng: Ông Phạm Đinh S sinh năm 1957

TT: Khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Người kháng cáo: Ông Đặng Hữu N - là bị đơn.

(Bà L, ông T, ông N, bà T1, ông L1, ông G có mặt)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Hoàng Thị L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Xuân T thống nhất trình bày:

Ngày 26/3/2022, bà Hoàng Thị L có giao dịch hợp đồng đặt cọc với ông Đặng Hữu N ở khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để mua 01 phần thửa đất diện tích 360m² (trong đó: có 50m² đất ở và 310m² đất vườn) nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 31, diện tích 1274m². Trong giấy đặt cọc vợ chồng bà L đã giao cho ông N 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Hai bên thỏa thuận bà L giao cho vợ chồng ông N, bà T1 1.000.000.000 đồng tiền đặt cọc (Số tiền đặt cọc này là tài sản chung của vợ chồng bà L, ông T), còn khi nào ông N, bà T1 giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà L, ông T, sẽ giao nốt 1.000.000.000 đồng, việc thỏa thuận có ông Phạm Đinh S, sinh năm 1957; địa chỉ: Khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ chứng kiến, vì cũng ở nơi khác đến nên bà L đã đề nghị ông N chủ động làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông N, bà T1 nhất trí. Sau khi giao dịch xong, hai bên đếm tiền, ông N và vợ xác nhận đã nhận đủ số tiền 1.000.000.000 đồng. Sau đó hai bên gọi công chứng đến để làm thủ tục hợp đồng thì biết, nếu chuyển nhượng thửa đất trên thì ông N phải tách thửa trước. Sau đó bà L bảo ông N gọi và lên một cửa của UBND thành phố để đăng ký đo vẽ, thực hiện thủ tục tách thửa, ông N đồng ý, rồi ông N nhiều lần lên Văn phòng đăng ký đất đai thành phố V để làm thủ tục nhưng đều không có kết quả, có đi cùng nên bà L được biết, do gia đình ông N xây dựng công trình, vật kiến trúc vượt quá diện tích đất ở nên Văn phòng đăng ký đất đai đã không làm thủ tục tách thửa cho gia đình nhà ông N, sự việc này bây giờ bà mới biết.

Một thời gian sau ông N gọi điện cho bà L bảo vợ chồng ông N lên một cửa để làm thủ tục hiến đường đi, bà L đáp đây là việc nhà ông, bà nên bà không đi, sau đó bà L hỏi ông N kết quả thì nhận được câu trả lời là mọi thủ tục đã xong và đợi làm công chứng hợp đồng chuyển nhượng là hoàn tất. Thời gian sau, do xót ruột nên vợ chồng bà L lên hỏi xem kết quả như thế nào thì ông N lại bảo đã hết thời hạn hai bên thỏa thuận nên gia đình bà sẽ mất 1.000.000.000 đồng đã đặt cọc, rồi ông N đuổi vợ chồng bà L về. Quá búc xúc nên bà L nhờ ông S làm trung gian hòa giải. Đến ngày 18/10/2022 vợ chồng bà L lên nhà ông N, tưởng ông N làm xong hết thủ tục để đi công chứng (ông bà đã chuẩn bị sẵn 1.000.000.000 đồng là số tiền thanh toán nốt khi hai bên giao kết xong). Nhưng khi nói chuyện với ông N, ông bảo ông chỉ cung cấp bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông N, bà T1 để cho bà L đi làm thủ tục chuyển nhượng thì bà L không đồng ý do bản phô tô không có giá trị sử dụng, cũng như không thể làm thủ tục sang tên được (Đối với bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông, bà không giữ chỉ được ông N cho xem qua). Sau đó vợ chồng bà L về, thời gian sau ông, bà vẫn lên nhà ông N để hòa giải nhưng không có kết quả.

Nay vợ chồng bà L, ông T cho rằng ông N đã không thực hiện thỏa thuận giữa hai bên thống nhất, không thực hiện được việc tách đất và làm các thủ tục khác để chuyển nhượng một phần thửa đất có diện tích 360 m² (trong đó: có 50m², đất ở và 310m² đất vườn) nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 31, diện tích 1274m² cho bà L, ông T được nên ông, bà đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì buộc vợ chồng ông N phải trả lại số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng và không đề nghị phạt cọc hoặc yêu cầu ông N phải chi trả số tiền nào khác.

2

Quá trình giải quyết, bản tự khai và tại phiên tòa bị đơn ông Đặng Hữu N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T1 thống nhất trình bày:

Đầu tháng 3, gia đình vợ chồng ông N, bà T1 có nhu cầu bán 360 m² (trong đó: có 50m², đất ở và 310m² đất vườn) nằm trong thửa đất số 26, tờ bản đồ số 31, diện tích 1274m². Đến ngày 26/3/2022 vợ chồng bà L có nhu cầu mua và đã đến gia đình vợ chồng ông N, bà T1 đặt cọc số tiền là 1.000.000.000 đồng để nhận chuyển nhượng thửa đất trên. Vợ chồng ông N, bà T1 đã nhận đủ tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng, ông T là người viết hợp đồng đặt cọc và có người làm chứng là ông Phạm Đinh S, sinh năm 1957; địa chỉ: Khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, các bên gồm bà L, ông N, ông S đều cùng ký vào hợp đồng đặt cọc. Trong thời gian đếm tiền vợ chồng ông N, bà T1 có nói với bà L “ Giao cho bà đi làm thủ tục giấy tờ” vợ chồng ông N, bà T1 có nói sẽ ra lộc 5.000.000 đồng, sau đó bà L không đồng ý, nên vợ chồng ông N, bà T1 đã ra lộc 20.000.000 đồng. Kiểm tra lại hợp đồng đặt cọc thì vợ chồng ông N, bà T1 thấy không ghi điều 3 thời gian đặt cọc - thanh toán, nhưng ông và vợ chồng bà L đã hẹn 10,15 ngày trả nốt số tiền còn lại để vợ chồng ông N ra văn phòng công chứng xã làm thủ tục. Thời gian sau vợ chồng ông N có nhắn nhủ chỗ ông S bảo gia đình bà L lên trả nốt tiền không quá 6 tháng nhỡ hết việc của vợ chồng ông. Xong sau đó ông T có lên và vẽ cho vợ chồng ông N một cái giấy, phác lại mảnh đất theo ý của ông ấy. Khoảng 15 ngày sau ông T lên nhà vợ chồng ông N và hẹn vợ chồng ông bà 12 giờ đi gặp luật sư, đầu tiên vợ chồng ông N, bà T1 nhận lời, nhưng sau đó nghĩ lại không ai làm việc 12 giờ trưa cả, do đi xe máy không đảm bảo an toàn nên ông N, bà T1 không đi. Đến lần thứ ba, ông T và bà L cùng lên và bảo vợ chồng ông N, bà T1 cùng đi làm thủ tục giấy tờ vì bà L cầm tiền đây rồi, vì chưa nhìn thấy tiền và cũng là giờ trưa nên vợ chồng ông N, bà T1 không đi. Sau đó vợ chồng bà L bỏ về và có chửi, trách vợ chồng ông N.

Nay vợ chồng bà L, ông T đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì buộc vợ chồng ông phải trả lại số tiền đặt cọc là 1.000.000.000 đồng ông N, bà T1 không đồng ý. Vợ chồng ông N, bà T1 yêu cầu ông T, bà L phải giao đủ số tiền là 2.000.000.000 đồng như đã thỏa thuận cho vợ chồng ông N, ông, bà sẽ giao giấy tờ gốc để làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho gia đình bà L. Nếu không thống nhất được như thế thì vợ chồng ông N, bà T1 đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản án số: 21/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 và Quyết định sửa chữa bổ sung bản án sơ thẩm số 18/2023/QĐ-SCBSBA ngày 21/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116; 117; 328; 387; 393; 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 1, Điều 12, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

3

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L đối với ông Đặng Hữu N về việc tranh chấp Hợp đồng đặt cọc.
  2. Xác định ông Đặng Hữu N đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đặt cọc ngày 26/3/2022.

Buộc ông Đặng Hữu N và bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền đặt cọc cho bà Hoàng Thị L là 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền nghĩa vụ khác của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 22/9/2023, ông Đặng Hữu N có đơn kháng cáo với nội dung: yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bên nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông N giữ nguyên kháng cáo và những căn cứ kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi vụ án được thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX: Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Hữu N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, sửa phần tuyên về án phí đối với bản án dân sự sơ thẩm số: 21/2023/DS-ST ngày 21/9/2023.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của ông Đặng Hữu N trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung kháng cáo theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng, các biên bản xác minh và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ông Đặng Hữu N và bà Nguyễn Thị T1 được UBND thành phố V cấp GCNQSDĐ số BH 666475 ngày 04/5/2012 đối với diện tích 1274m² thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 31 tại khu H, xã C, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (trong đó có 100m² đất ở và 1174m² đất vườn). Trên diện tích đất 1274m² theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ hiện nay có các công trình xây dựng gồm:

  • + 01 nhà cấp 4 cũ có diện tích 98,6m² không rõ năm xây dựng, đã tháo dỡ phần mái;
  • + 01 ngôi nhà hai tầng (Xây dựng đầu năm 2022), diện tích là 137,4 m²;
  • + 01 bếp liền kề với ngôi nhà hai tầng, diện tích là 41,6m².

Như vậy, diện tích đất đã được sử dụng để xây dựng nhà ở, các công trình phục vụ cho đời sống là 277,6m², vượt quá diện tích đất ở được UBND thành phố V cấp 100m² theo GCNQSDĐ.

4

Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh tại UBND xã C và Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố V, xác định hộ gia đình ông Đặng Hữu N hiện xây dựng công trình vượt quá diện tích đất ở được giao. Tuy nhiên chưa xin phép chuyển mục đích sử dụng, chưa thực hiện thủ tục tách thửa, nhưng lại nhận đặt cọc chuyển nhượng một phần quyền sử dụng thửa đất số 26, tờ bản đồ số 31 diện tích 360m² đất (trong đó có 50m² đất ở) cho bà Hoàng Thị L. Căn cứ văn bản số 251/UBND-KTN ngày 21/01/2021 của UBND tỉnh P về việc tháo gỡ một số vướng mắc trong công tác đăng ký biến động đất đai, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Phú Thọ thì hộ ông N không đủ điều kiện xem xét công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã tự ý chuyển mục đích sử dụng.

Do ông N không đủ điều kiện xem xét công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã tự ý chuyển mục đích sử dụng, không thể thực hiện được việc tách thửa, nên không thể thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng diện tích 360m² đất (trong đó có 50m² đất ở) cho bà Hoàng Thị L theo nội dung hợp đồng đặt cọc 2 bên đã ký kết ngày 26/3/2022. Dẫn đến hợp đồng đặt cọc giữa ông N và bà L vô hiệu.

Việc không thực hiện được hợp đồng là do lỗi của ông N đã xây dựng công trình vượt quá diện tích đất ở theo GCNQSDĐ từ trước khi thỏa thuận và ký hợp đồng đặt cọc với bà Hoàng Thị L. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L, buộc ông N và bà T1 có nghĩa vụ trả lại số tiền đặt cọc 1.000.000.000 đồng cho vợ chồng bà Hoàng Thị L là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Hữu N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Về chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm:

Tại cấp phúc thẩm ông N đề nghị xem xét thẩm định lại tài sản và đo vẽ, chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đo vẽ là 9.100.000 đồng. Kháng cáo không được chấp nhận nên ông Đặng Hữu N phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và đo vẽ là 9.100.000 đồng (xác nhận đã nộp).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm:

Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L được chấp nhận nên ông N, bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, ông N là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên ông N phải chịu án phí phúc thẩm, nhưng ông N được miễn án phí dân sự phúc thẩm

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các nội dung cần rút kinh nghiệm đối với bản án sơ thẩm: Bà Hoàng Thị L khởi kiện buộc ông Đặng Hữu N bà Nguyễn Thị T1 trả cho bà L, ông T số tiền 1.000.000.000đồng. Bản án đã đưa ông T vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, ông T, bà L đều trình bày khoản tiền đặt cọc 1.000.000.000đồng là tài sản chung của bà L, ông T, nhưng quyết định của bản án buộc ông N, bà T1 trả khoản tiền 1.000.000.000đồng cho riêng bà L là không đảm bảo quyền lợi cho ông T. Trong phần quyết định của bản án buộc bà T1, ông N trả cho bà L 1.000.000.000đồng nhưng án phí lại quyết định ông N phải chịu toàn bộ là

5

không đúng mà phải buộc cả bà T1 phải chịu. Khi xét xử sơ thẩm ông N đã quá 60 tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí, nên bản án sơ thẩm buộc ông N phải chịu án phí, khi xét xử phúc thẩm ông N có đơn xin miễn án phí, nên Hội đồng xét xử sửa về phần án phí, xác định lỗi sửa án là lỗi khách quan.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đặng Hữu N.

Giữ nguyên nội dung bản án sơ thẩm số: 21/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ. Sửa về án phí.

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 116; 117; 328; 387; 393; 401 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị L đối với ông Đặng Hữu N về việc: “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc”.
  2. Xác định ông Đặng Hữu N đã vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đặt cọc ngày 26/3/2022.

    Buộc ông Đặng Hữu N và bà Nguyễn Thị T1 có nghĩa vụ thanh toán số tiền đặt cọc cho bà Hoàng Thị L và ông Phạm Xuân T số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng).

  3. Về chi phí tố tụng: Ông Đặng Hữu N chịu toàn bộ 9.100.000 đồng (Chín triệu một trăm nghìn đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và đo đạc. Xác nhận ông N đã nộp đủ.
  4. Về án phí:
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đặng Hữu N được miễn án phí dân sự sơ thẩm

    Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu 21.000.000đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Án phí phúc thẩm: Ông Đặng Hữu N được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - Chi cục THADS TP. Việt Trì;
  • - TAND TP. Việt Trì ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Điêu Thị Bích Lượt

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng đặt cọc

  • Số bản án: 26/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Thị L - Đặng Hữu N - tranh chấp hợp đồng đặt cọc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger