TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16/4/2024 “V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Dẫm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Hoàng;
- Bà Lương Thị Kim Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Minh Cảnh – là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Thanh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:21/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Thiên P, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số I, tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (có mặt).
- Bị đơn: Chị Mai Thị Ngọc G, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Lê Thiên P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh P và chị G do tự tìm hiểu quen biết nhau, được sự đồng ý của cha, mẹ hai bên dẫn đến kết hôn, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P (nay là phường L, thị xã T), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 121 quyển số I ngày 10 tháng 10 năm 2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn và cãi nhau thường xuyên, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc như trước nên anh P và chị G không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành. Nay nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nữa nên anh Lê Thiên P yêu cầu ly hôn với chị G.
- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, anh P và chị Giàu có 02 (hai) con chung tên Lê Mai P1, sinh ngày 24/9/2008 và Lê Mai Kiều P2, sinh ngày 15/3/2013. Hiện cháu Mai P2 và cháu Kiều P2 đang sống với anh P, khi ly hôn anh P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh P trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 772/TB-TLVA ngày 30/10/2023; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 703/TB-TA ngày 13/12/2023, số 39/TB-TA ngày 17/01/2024 và các văn bản tố tụng khác cho chị Mai Thị Ngọc G nhưng chị G vắng mặt tham gia tố tụng tại Tòa án và không cung cấp văn bản ý kiến phản hồi cho Tòa án và tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có).
Ngày 17/01/2024, Toà án nhân dân thị xã Tân Châu đã tiến hành lập biên bản về việc không lấy được lời khai của chị Mai Thị Ngọc Giàu c sự chứng kiến của Ban khóm L, phường L do chị G không có mặt tại địa phương; qua xác minh tại Công an phường L được biết: Chị Mai Thị Ngọc G, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang.
Ngày 29/11/2023, Toà án nhân dân thị xã Tân Châu tiến hành ghi nhận ý kiến cháu Lê Mai P2, sinh ngày 24/9/2008 và Lê Mai Kiều P2, sinh ngày 15/3/2013; cháu Mai P2 và Kiều P2 cho biết các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng với cha là anh Lê Thiên P khi cha mẹ cháu là ông P và bà G ly hôn.
Tại phiên tòa, chị G vắng mặt; anh P giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh chị G.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48; Điều 203; Điều 239 Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý cho đến khi giải quyết vụ án. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng từ giai đoạn thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, bị đơn chị Mai Thị Ngọc G vắng mặt lần thứ hai không có lý do, do đó căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thiên P được ly hôn với chị Mai Thị Ngọc G.
- Về con chung: Anh Lê Thiên P được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung tên Lê Mai P2, sinh ngày 24/9/2008 và Lê Mai Kiều P2, sinh ngày 15/3/2013 cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động. Chị G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Lê Thiên P trình bày không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Thiên P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Thiên P khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Mai Thị Ngọc G có địa chỉ cư trú tại: Tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn chị Mai Thị Ngọc G đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Anh P và chị Giàu c đăng ký kết hôn vào năm 2008 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện P (nay là phường L, thị xã T), tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 121 quyển số I ngày 10 tháng 10 năm 2008. Hôn nhân giữa chị G và chị G là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.
Anh P khai, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, nhận thấy tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nữa nên anh P yêu cầu ly hôn với chị G.
Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho anh P và chị G hàn gắn tình cảm, nhưng chị G vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.
Tình trạng vợ chồng anh P và chị G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì không thể xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững mà còn kéo dài sự đau khổ cho anh P. Xét, cho anh Lê Thiên P ly hôn với chị Mai Thị Ngọc G là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Anh P và chị Giàu có 02 (hai) con chung tên: Lê Mai P2, sinh ngày 24/9/2008 và Lê Mai Kiều P2, sinh ngày 15/3/2013, hiện đang sống với anh P, anh P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung cho đến khi trưởng thành và có khả năng lao động, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
Cháu Lê Mai P2 và Lê Mai Kiều P2 đều có trình bày nguyện vọng được sống cùng với cha là ông Lê Thiên P khi cha, mẹ cháu ly hôn.
Để đảm bảo môi trường sống của cháu Mai P2 và Kiều P2 không bị xáo trộn và quyền lợi mọi mặt của của con, anh P yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung Lê Mai P2, sinh ngày 24/9/2008 và Lê Mai Kiều P2, sinh ngày 15/3/2013, không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.
[3] Về tài sản và nợ chung: Anh Lê Thiên P trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
[4] Về án phí: Anh Lê Thiên P phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.
[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa về giải quyết vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Thiên P.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Thiên P được ly hôn với chị Mai Thị Ngọc G.
- Về con chung: Anh Lê Thiên P được tiếp tục nuôi dưỡng các con chung tên Lê Mai P2, sinh ngày 24/9/2008 và Lê Mai Kiều P2, sinh ngày 15/3/2013 cho đến khi con chung trưởng thành và có khả năng lao động. Chị Mai Thị Ngọc G không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Lê Thiên P cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở chị Mai Thị Ngọc G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
- Về án phí: Anh Lê Thiên P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm được trừ từ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007752 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Anh Lê Thiên P đã nộp đủ án phí. Chị Mai Thị Ngọc G không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Anh Lê Thiên P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Chị Mai Thị Ngọc Giàu c quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thị hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hữu Dẫm |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Lê Thiên P ly hôn Chị Mai Thị Ngọc G
