TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2025/HS-ST Ngày: 14/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Duy Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Huỳnh Văn Bé.
- - Ông Lê Văn Rồi.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Đồng Quang Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 347/2024/TLST-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Quốc C, sinh ngày 20 tháng 9 năm 2007 tại tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: A P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Đặng Thị Yên Mộng L; Chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/9/2024 cho đến nay (Có mặt).
Người giám hộ của bị cáo C: Ông Nguyễn Văn T là cha ruột của bị cáo C, địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Phạm Viết T1, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn 2, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Chỗ ở: 18 Phan Văn S, phường 13, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Quốc C: Luật sư Hoàng Văn Q- Đoàn Luật sư Thành phố H (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/09/2024, Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện C Công an xã T, huyện C tuần tra đến trước nhà số B, Tỉnh lộ 8, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh phát hiện Nguyễn Quốc C đang dừng xe gắn máy biển số 83P2 – 400.69 trên đường có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong cốp xe gắn máy có 01 bịch nylon màu đen bên trong có chứa 01 gói nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể và 01 (một) gói nylon màu đỏ có in chữ “Ferrari” bên trong có chứa chất bột. C khai nhận bên trong túi nylon màu đen là ma túy từ một người tên Lê Hiệp L1 kêu C mang đi giao cho người khác. Công an xã T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với C.
Quá trình điều tra, C khai quen biết L1 từ giữa năm 2023 khi làm chung công ty, sau đó cả hai đều nghỉ việc. Đến đầu tháng 09/2024, L1 rủ C đến nhà số A P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ở và nói đi giao ma túy cho L1 và L1 trả tiền công 200.000 đồng/lượt thì C đồng ý.
Khoảng 23 giờ ngày 06/09/2024 tại nhà số A P, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, L1 giao cho C 01 bịch nylon màu đen nói bên trong có chứa ma túy và nói địa điểm giao cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Lực hứa khi giao xong sẻ trả công cho C số tiền 200.000 đồng. Khoảng 00 giờ 30 ngày 07/09/2024, C điều khiển xe gắn máy biển số 83P2-400.69 đến điểm hẹn để giao ma túy. Khi C đến địa chỉ số B, Tỉnh lộ 8, ấp A, xã T, huyện C thì dừng xe và chờ người đàn ông đến để giao ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang như trên.
Tiến hành khám xét chỗ ở của Nguyễn Quốc C tại số nhà A P, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh không thu giữ được gì.
Kết quả xét nghiệm ma túy: C âm tính với ma túy tổng hợp.
Kết luận giám định số 10527/KL-KTHS ngày 13/09/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận (BL 24):
- - Tinh thể được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,8848g (một phẩy tám tám bốn tám gam), loại Ketamine.
- - Chất bột được ký hiệu mẫu m2 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 7,2739g (bẩy phẩy hai bảy ba chín gam), loại MDMA, Ketamine. Để xác định khối lượng từng loại ma túy trong mẫu m2 cần phải thực hiện giám định hàm lượng.
Theo Thông tư liên tịch số 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14/11/2015 của Bộ C2 – Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Tòa án nhân dân tối cao – Bộ Tư pháp, mẫu m2 không thuộc các trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng nên Phòng PC09 không thực hiện giám định hàm lượng.
Tại Bản cáo trạng số 09/CT-VKS.CC ngày 11 tháng 12 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị can Nguyễn Quốc C về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 250 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017).
Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như trên, đồng thời khai nhận đã đi giao ma túy cho L1 04 lần, thu lợi số tiền 800.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi giữ quyền công tố phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo C mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị buộc bị cáo nộp số tiền thu lợi bất chính là 800.000 đồng, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.
Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo C, Luật sư Hoàng Văn Q tranh luận: Luật sư đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố, tuy nhiên về mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là quá nặng, vì mục đích khi áp dụng hình phạt đối với trẻ vị thành niên phạm tội là mang tính giáo dục, giúp đỡ cho bị cáo nhận thức về hành vi sai trái của mình. Bị cáo phạm tội do bị dụ dỗ, lôi kéo, từ đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người giám hộ cho bị cáo C, ông Nguyễn Văn T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo C.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 07/9/2024, tại địa chỉ trước nhà số B Tỉnh lộ 8, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn Quốc C có hành vi vận chuyển 01 gói nylon chứa 1,8848g loại Ketamine và 01 gói nylon màu đỏ chứa 7,2739g loại MDMA, Ketamine. Bị cáo C thừa nhận việc vận chuyển ma túy trên là do đối tượng tên L1 thuê bị cáo đi giao cho con nghiện và được trả công 200.000 đồng/lượt. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội Vận chuyển trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo C về tội danh trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về trật tự quản lý hành chính, lĩnh vực quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt của mọi người. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ rằng chất ma túy là mặt hàng Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán, vận chuyển. Bị cáo thực hiện hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, giao ma túy cho người khác sử dụng là tiếp tay cho các phần tử xấu gây nguy hại cho xã hội, là mầm móng gây ra những tội phạm khác, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì thỏa mãn động cơ tư lợi riêng cá nhân bị cáo. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần phải xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.
Trong vụ án người thanh niên tên Lê Hiệp L1 chưa làm việc được, cơ quan điều tra sẽ làm rõ, xử lý sau, Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.
Đối với số tiền bị cáo thu lợi bất chính là 800.000 đồng, cần buộc bị cáo nộp lại cho ngân sách nhà nước như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi là phù hợp.
Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo C sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn tại Cơ quan Điều tra cũng như tại phiên tòa, do vậy Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào về hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, tại thời điểm phạm tội và xét xử, bị cáo là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nên áp dụng khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm một phần hình phạt cho bị cáo như điều luật quy định là phù hợp, cũng như lời bào chữa của Luật sư là có cơ sở chấp nhận.
[5] Về vật chứng vụ án:
01 xe gắn máy biển số 83P2-400.69, số khung RLHJF5125FY0196671, số máy JF51E0244234 thuộc sở hữu của bà Phạm Viết T1, C mượn xe của bà T1 đi giao ma túy, bà T1 không biết nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà T1, đồng thời trả lại chiếc xe trên cho bà T1. Hội đồng xét xử thấy phù hợp nên không xét.
01 điện thoại di động hiệu iphone có số IMEI1: 356825825637663, số IMEI2: 356825825254576.
Đây là điện thoại di động bị cáo dùng để liên lạc giao ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách là phù hợp.
01 gói niêm phong mang số vụ 3231/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên.
Vật chứng nêu trên là vật, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[6] Về nghĩa vụ chịu án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 250; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07/9/2024.
- Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu, tiêu hủy:
- + 01 gói niêm phong mang số vụ 3231/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên;
Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:
- + 01 điện thoại di động hiệu iphone có số IMEI1: 356825825637663, số IMEI2: 356825825254576.
- + Buộc bị cáo Nguyễn Quốc C nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 800.000 (Tám trăm nghìn) đồng, nộp một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
(Lệnh nhập kho vật chứng số 1740 /LNK-ĐTTH ngày 05/11/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 284/PNK ngày 08/11/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C).
- Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật phí và lệ phí năm 2015, Đ a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc C phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bào chữa, người giám hộ cho bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Duy Trung |
Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vận chuyển trái phép chất ma túy
- Số bản án: 26/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép chất ma túy
