Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày 20-6-2024

V/v không công nhận

quan hệ vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Hà Thị Nga

Bà Nguyễn Thị Bích Lý

Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Ông Trần Hùng Vũ – Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 355/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 415/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu T; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A khu T, phường K, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Số H T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số F T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án tại Đội 17, phân trại số 02 trại giam X, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thu T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn H xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, được hai gia đình đồng ý, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán vào năm 2002. Do thời điểm đó hai bên thiếu hiểu biết pháp luật nên không đăng ký kết hôn. Đến nay có 01 con chung.

Quá trình chung sống, hai bên có nhiều mâu thuẫn từ khi mới chung sống cùng nhau. Nguyên nhân do ông H không có việc làm, không chịu lao động, mọi gánh nặng mưu sinh đè lên vai bà T. Bên cạnh đó, ông H mắc nghiện ma tuý dẫn đến kinh tế gia đình kiệt quệ. Hai bên đã sống ly thân nhau từ nhiều năm nay không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau nữa. Đến năm 2021 ông H vi phạm pháp luật về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, hiện đang chấp hành án tại trại giam X. Nay bà T xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Bà T yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H.

Về con chung: Bà T ông H có 01 con chung là Nguyễn Hải Q, sinh ngày 24/01/2003, con chung đã thành niên đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Ông và bà Nguyễn Thu T xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, được hai gia đình đồng ý, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán vào năm 2002. Do thời điểm đó hai bên thiếu hiểu biết pháp luật nên không đăng ký kết hôn. Đến nay có 01 con chung.

Quá trình chung sống đến năm 2016 bà T đã bỏ nhà đi vào miền N đến nay hai bên đã sống ly thân được 8 năm. Đến năm 2021 ông H vi phạm pháp luật về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, hiện đang chấp hành án tại trại giam X. Nay bà T đề nghị Toà án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông H, quan điểm của ông H là không đồng ý.

Về con chung: Bà T ông H có 01 con chung là Nguyễn Hải Q, sinh ngày 24/01/2003, con chung đã thành niên đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về trình tự thủ tục về pháp luật tố tụng tại phiên tòa; các đương sự chấp hành đúng các quy định về pháp luật tố tụng.

Về nội dung vụ án: Bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn nên không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Do vậy, đến nay bà T xác định tình cảm không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng và đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn thì cần xem xét giải quyết không công nhận bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Bà T ông H có 01 con chung là Nguyễn Hải Q, sinh ngày 24/01/2003 đã thành niên nên không xét.

Về tài sản chung: Bà T và ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

Về án phí: Bà Nguyễn Thu T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

[1] Theo đơn khởi kiện không công nhận quan hệ vợ chồng cũng như tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông Nguyễn Văn Hải đăng k thường trú tại: Số F T, phường N, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thu T vắng mặt và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Nguyễn Văn H vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Văn H.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà T tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2002 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mặc dù hai bên có đủ điều kiện kết hôn nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng.

[4] Quá trình chung sống hai bên phát sinh mâu thuẫn nên đã sống ly thân từ nhiều năm nay. Đến năm 2021 ông H vi phạm pháp luật về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, hiện đang chấp hành án tại trại giam X. Căn cứ khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu của bà T và tuyên bố không công nhận bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.

[5] Về nuôi con chung: Bà T và ông H có 01 con chung là Nguyễn Hải Q, sinh ngày 24/01/2003, con chung đã thành niên đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về tài sản chung: Bà T và ông H thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[7] Về án phí: Bà Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thu T và ông Nguyễn Văn H.

- Về án phí: Bà Nguyễn Thu T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền trên bà T đã nộp đủ tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0005773 ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Về quyền kháng cáo:

Bà Nguyễn Thu T, ông Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Quận Lê Chân;
  • - Chi cục THA dân sự Quận Lê Chân;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Ngọc Hà

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về không công nhận quan hệ vợ chồng

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vụ án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger