TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 19/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoàng Thành, ông Trần Duy Ngọc.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên Trung cấp.
Vào ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Thanh T, sinh ngày 16/3/1991 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 06/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Trần Văn M, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1961. Tiền sự, tiền án: Không. Bị bắt tạm giam từ ngày 18/9/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt tại phiên tòa.
*Người bị hại: Lê Ngọc Q, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Lê Ngọc Q gồm có:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Cháu Lê Thị Lệ H1, sinh ngày 25/02/2016 và cháu Lê Bình A, sinh ngày 30/10/2019 do chị H là người giám hộ, đại diện theo pháp luật. Chị H có mặt.
- Ông Lê L, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên đều ủy quyền cho chị Nguyễn Thị H đại diện (Giấy ủy quyền ngày 28/11/2023 có chứng thực của Văn phòng C1). Chị H có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1961, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Ông Lê L, sinh năm 1963, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1983, nơi cư trú: Khu phố P, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Trần Thị Ngọc C, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Bạch Văn Đ1, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Huỳnh Ngọc L1, sinh năm 1988, nơi cư trú: Thôn V, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
- Trần Thị Mộng T2, sinh năm 1993, nơi cư trú: Thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ ngày 17/9/2023, Trần Thanh T, chị Trần Thị Mộng T2 (em ruột T), anh Lê Ngọc Q và một số người khác dự tiệc tân gia tại nhà anh Bạch Văn Đ1 tại thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc ăn nhậu, hát kẹo kéo, anh Q trêu ghẹo, dùng tay sờ mó, bóp mông chị T2, thấy vậy T nói “sao mày làm vậy với em tao”, anh Q trả lời “tao thích làm vậy á” thì giữa T và anh Q xảy ra mâu thuẫn, xô xát nhau, anh Q dùng chân đạp vào chân làm T ngã xuống sân gây xây sát da tay trái, chân phải, được mọi người can ngăn nên cả hai đi về nhà. Trên đường đi về, T gặp anh Q, bị anh Q liên tục chửi bới đòi chém T, tay cầm 01 cái rựa đưa lên đưa xuống về hướng T nên T bực tức, cầm 01 hòn đá diện (17,5x17x09)cm đánh mạnh 01 cái trúng vùng mặt làm anh Q ngã ngửa ra sau, đầu đập xuống đường bê tông bất tỉnh. Thấy vậy, T hô hoán, mọi người đưa anh Q đi cấp cứu, đến 05 giờ ngày 18/9/2023 thì anh Q chết. Sau khi xảy ra sự việc, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã S đầu thú.
Kết luận giám định tử thi số 490/2022/KLGĐTT-KTHS ngày 09/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Nguyên nhân chết của Lê Ngọc Q là do chấn thương sọ gây tăng áp lực nội sọ dẫn đến tụt kẹt hành não-chết.
Tại Bản Cáo trạng số: 24/CT – VKSPY – P1 ngày 20/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Giết người” theo quy định tại Khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, có quan truy tố, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Giết người”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 2, Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Thanh T từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 18/9/2023).
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự. Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và đại diện hợp pháp của bị hại.
- - Bị cáo Trần Thanh T có trách nhiệm bồi thường số tiền 152.702.316₫ cho người đại diện hợp pháp của bị hại về khoản thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm, bị cáo đã bồi thường số tiền 30.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 122.702.316₫.
- - Bị cáo Trần Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lê Thị Lệ H1, sinh ngày 25/02/2016 và cháu Lê Bình A, sinh ngày 30/10/2019 mỗi tháng mỗi cháu 2.000.000đ. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 17/9/2023 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý, cụ thể:
Đối với: - 01 (một) chiếc dép da (dép phải) màu đen, hiệu “SE7EN”, kích thước (26x10)cm. - 01 (một) chiếc dép da (dép trái) màu đen, hiệu “POPOK”, kích thước (27x11)cm. - 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đen, hiệu “PUMA”. - 01 (một) đôi dép xốp loại xỏ ngón màu xanh - xám, kích thước mỗi chiếc (27x11)cm. - 01 (một) viên đá, kích thước (17,5x17x9)cm. - 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa mẫu máu thu tại hiện trường, Mã số: PS3 2145893. - 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa mẫu máu Lê Ngọc Q, Mã số: PS3 2145895, được thu giữ là công cụ phạm tội, mẫu vật thu giữ để trưng cầu giám định và vật liên quan đến tội phạm nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 (một) rựa dài 72,5cm trong đó phần cán bằng gỗ dài 43,2cm, đường kính 3cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 29,3cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 2,5cm.
Bị cáo Trần Thanh T nói lời sau cùng, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Mặc dù tại phiên tòa, một số người làm chứng vắng mặt, tuy nhiên, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Thanh T tại cơ quan điều tra, cơ quan truy tố và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ dùng vào việc phạm tội, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/9/2023, tại thôn L, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên, do Lê Ngọc Q trêu ghẹo Trần Thị Mộng T2 (là em ruột của bị cáo Trần Thanh T), xô xát, chửi bới, dùng rựa đòi chém T nên T dùng 01 hòn đá đánh mạnh trúng vào vùng mặt của Q làm Q ngã ngửa ra sau đập đầu xuống đường bê tông, hậu quả Q chết nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Giết người” theo quy định tại Khoản 2, Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của người khác, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, sự việc xảy ra cũng có một phần lỗi của người bị hại, sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú; tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại, nên xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị H yêu cầu bị cáo Trần Thanh T phải bồi thường số tiền 152.702.316đ về khoản thiệt hại do tính mạng xâm phạm, bị cáo Trần Thanh T và gia đình đã bồi thường trước số tiền 30.000.000₫ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 122.702.316đ. Ngoài ra, đai diện hợp pháp của bị hại còn yêu cầu bị cáo Trần Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lê Thị Lệ H1, sinh ngày 25/02/2016 và cháu Lê Bình A, sinh ngày 30/10/2019, mỗi tháng mỗi cháu 2.000.000đ, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023. Bị cáo Trần Thanh T đồng ý bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo yêu cầu của đại diện hợp pháp của bị hại. Xét thấy, sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại, thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng giữa bị cáo Trần Thanh T và đại diện hợp pháp của bị hại phù hợp với pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với: - 01 (một) chiếc dép da (dép phải) màu đen, hiệu “SE7EN”, kích thước (26x10)cm. - 01 (một) chiếc dép da (dép trái) màu đen, hiệu “POPOK”, kích thước (27x11)cm. - 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đen, hiệu “PUMA”. - 01 (một) đôi dép xốp loại xỏ ngón màu xanh - xám, kích thước mỗi chiếc (27x11)cm. - 01 (một) viên đá, kích thước (17,5x17x9)cm. - 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa mẫu máu thu tại hiện trường, Mã số: PS3 2145893. - 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa mẫu máu Lê Ngọc Q, Mã số: PS3 2145895, được thu giữ là công cụ phạm tội, mẫu vật thu giữ để trưng cầu giám định và vật liên quan đến tội phạm nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nhận lại nên tịch thu tiêu hủy.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 (một) rựa dài 72,5cm trong đó phần cán bằng gỗ dài 43,2cm, đường kính 3cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 29,3cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 2,5cm.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Thanh T bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo Trần Thanh T còn phải bồi thường thiệt hại và nghĩa vụ cấp dưỡng nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Giết người”.
Về hình phạt: Áp dụng Khoản 2, Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Bị cáo Trần Thanh T 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 18/9/2023).
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 591 Bộ luật Dân sự; Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo Trần Thanh T và đại diện hợp pháp của bị hại, cụ thể:
- - Bị cáo Trần Thanh T có trách nhiệm bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại do chị Nguyễn Thị H đại diện nhận số tiền 152.702.316đ về khoản thiệt hại do tính mạng xâm phạm, bị cáo đã bồi thường trước số tiền 30.000.000đ nên còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 122.702.316đ (Một trăm hai mươi hai triệu, bảy trăm lẻ hai nghìn, ba trăm mười sáu đồng).
- - Bị cáo Trần Thanh T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Lê Thị Lệ H1, sinh ngày 25/02/2016 và cháu Lê Bình A, sinh ngày 30/10/2019 mỗi tháng mỗi cháu 2.000.000₫ (Hai triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 9/2023 cho đến khi phát sinh một trong các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án), nếu người phải thi hành án chưa thi hành xong nghĩa vụ của mình thì phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy đối với: - 01 (một) chiếc dép da (dép phải) màu đen, hiệu “SE7EN”, kích thước (26x10)cm. - 01 (một) chiếc dép da (dép trái) màu đen, hiệu “POPOK”, kích thước (27x11)cm. - 01 (một) chiếc mũ lưỡi trai màu đen, hiệu “PUMA”. - 01 (một) đôi dép xốp loại xỏ ngón màu xanh - xám, kích thước mỗi chiếc (27x11)cm. - 01 (một) viên đá, kích thước (17,5x17x9)cm. - 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa mẫu máu thu tại hiện trường, Mã số: PS3 2145893. - 01 (một) túi niêm phong bên trong có chứa mẫu máu Lê Ngọc Q, Mã số: PS3 2145895.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị H 01 (một) rựa dài 72,5cm trong đó phần cán bằng gỗ dài 43,2cm, đường kính 3cm, phần lưỡi bằng kim loại dài 29,3cm, chỗ rộng nhất 10cm, chỗ hẹp nhất 2,5cm.
(Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26 tháng 02 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm, 6.135.000₫ (Sáu triệu, một trăm ba mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về nghĩa vụ cấp dưỡng.
Bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Trần Duy Ngọc Nguyễn Hoàng Thành | Nguyễn Việt Hùng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vụ án hình sự (giết người)
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án - HSST - TRẦN THANH T- giết người - CT HÙNG
