Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BÀ RỊA

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DS-ST

Ngày: 18-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Khoa

2. Bà Hoàng Thị Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2023/TLST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXX-DS ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1

Trụ sở: Số B -B N, Quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Ủy quyền tham gia tố tụng cho ông: Trần Quốc K – Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 – Chi nhánh B.

Ông K ủy quyền cho bà Trần Thị Thu T– Chức vụ: Chuyên viên kiểm soát rủi ro – Chi nhánh B – Ngân hàng thương mại cổ phần S1.

Địa chỉ: Số C đường D, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1972

Địa chỉ: Tổ 1, ấp P, xã T, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 25-9-2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần S1; bản tự khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Trần Thị Thu T trình bày:

Ngày 18/8/2022, ông S có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng–các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông S, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 50.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông S đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 50.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 12.620.000 đồng (Trong đó: thanh toán gốc: 5.112.376 đồng, thánh toán lãi và phí: 7.507.624 đồng). Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, số tiền thanh toán sẽ được ưu tiên trừ vào các khoản phí, lãi trước sau đó sẽ trừ tiếp vào các khoản giao dịch.

Cụ thể số tiền ông S nợ đến ngày 15/08/2023 được tính như sau:

Dư nợ ngày 15/08/2023 = Số tiền giao dịch – (Số tiền thanh toán – P, lãi).

Trong đó:

Số tiền giao dịch: 50.000.000 đồng; số tiền thanh toán: 12.620.000 đồng; tổng các khoản phí: 1.679.334 đồng. Tổng tiền lãi: 16.126.135 đồng. Dư nợ ngày 15/08/2023 = 50.000.000 – (12.620.000 – 1.679.334 – 16.126.135) = 55.185.469 đồng.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông S vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông S vi phạm hợp đồng, ngày 15/8/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ theo quy định của S2. (Điều 24 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngân hàng chỉ yêu cầu ông S có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng tính đến ngày 18/6/2024, ông S còn nợ các khoản sau:

Nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng. Tổng cộng: 78.692.645 đồng. Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền Nợ gốc là 55.185.469 đồng với lãi suất quá hạn là 4.15%/ tháng (2.77% * 150%) từ ngày ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (từ ngày 15/8/2023) cho đến hiện tại.

Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông S, yêu cầu có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ, tuy nhiên ông S vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.

Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, Ngân hàng TMCP S1 yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc ông Nguyễn Văn S phải trả ngay một lần cho Ngân hàng tổng số tiền tạm tính đến ngày 18/6/2024 là 78.692.645 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng) trong đó: Nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 18/6/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Đới với bị đơn ông Nguyễn Văn S: Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông S không đến Tòa án theo giấy triệu tập nên không thu thập được lời khai của ông S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Vụ án thụ lý đúng theo thẩm quyền, Thẩm phán đã tiến hành thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình, còn bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không chấp hành. Việc xét xử vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định ông Nguyễn Văn S có vay tiền của Ngân hàng TMCP S1. Đến nay ông S còn nợ số tiền 78.692.645 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó Nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng. Ngân hàng khởi kiện là có căn cứ, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

+ Về tố tụng:

Ngân hàng thương mại cổ phần S1 khởi kiện ông Nguyễn Văn S về tranh chấp Hợp đồng tín dụng, không có mục đích lợi nhuận nên quan hệ tranh chấp được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố B nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án triệu tập 02 lần hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, xét xử vắng mặt ông S là đúng theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

+ Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S1 về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn S phải trả số tiền là 78.692.645 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 61812027/CNBR ngày 18/8/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn S với Ngân hàng TMCP S1, thể hiện: Ông Nguyễn Văn S có vay số tiền 50.000.000 đồng của Ngân hàng TMCP S1. Lãi suất tại thời điểm làm thẻ là 31,2%. Mục đích vay để tiêu dùng cá nhân. Kỳ thanh toán vào ngày 15 hàng tháng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 15/4/2023 ông S đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 12.620.000 đồng (trong đó: thanh toán gốc: 5.112.376 đồng, thánh toán lãi + phí: 7.507.624 đồng). Từ ngày 15/5/2023 cho đến nay ông S không thanh toán cho Ngân hàng bất kỳ khoản gốc và lãi nào. Đến ngày 15/8/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và áp dụng lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ trên tổng số tiền chưa thanh toán là 55.185.469 đồng.

Còn đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S cố tình vắng mặt nên Tòa án không tiến hành thu thập được lời khai, chứng cứ gì từ ông S. Mặc dù không thu thập được lời khai của ông S nhưng căn cứ vào chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở khẳng định ông Nguyễn Văn S vay của Ngân hàng TMCP S1 số tiền gốc 50.000.000 đồng, đã trả được cả gốc và lãi 12.620.000đ. Kể từ ngày 15/5/2023 đến nay ông S không trả được khoản tiền nào. Còn bị đơn do không đến Tòa án nên không tiến hành lấy lời khai, đối chất được. Việc thừa nhận của nguyên đơn về việc bị đơn đã trả nợ cả gốc lẫn lãi là 12.620.000 đồng là tự nguyện nên cần ghi nhận.

[2] Về tiền lãi suất:

Căn cứ vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 61812027/CNBR ngày 18/8/2022 được ký kết giữa ông Nguyễn Văn S với Ngân hàng TMCP S1 thì lãi suất thỏa thuận là 31,2%/năm. Theo khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì lãi suất các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm. Tuy nhiên căn cứ vào khoản 2 Điều 91 của Luật tổ chức tín dụng thì bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ gốc và tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, do vậy Ngân hàng TMCP S1 áp dụng lãi suất 31,2%/năm để tính lãi suất là có căn cứ.

[3] Từ những phân tích nhận định nêu, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Cần buộc ông Nguyễn Văn S phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S1 tổng số tiền là 78.692.645 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó: Nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng.

[4] Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Văn S phải nộp toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng;
  • - Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn ông Nguyễn Văn S.

1. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn S phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 tổng số tiền là 78.692.645 đồng (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó Nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng đồng (Bằng chữ: Bảy mươi tám triệu sáu trăm chín mươi hai ngàn sáu trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó Nợ gốc: 55.185.469 đồng; nợ lãi: 23.507.176 đồng và lãi suất phát sinh từ ngày 19/6/2024 theo hợp đồng đã ký kết.

2. Về án phí:

+ Buộc ông Nguyễn Văn S phải nộp 3.934.632 đồng (Ba triệu chín trăm ba mươi bốn nghìn sáu trăm ba mươi hai đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

+ Hoàn trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 1.455.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0010130 ngày 03/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

3. Về quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (18/6/024). Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
  • - VKSND TP. Bà Rịa;
  • - CCTHADS TP. Bà Rịa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

Nguyễn Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 26/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger