TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày 17/9/2024 Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nông Thị Hường.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thuận và bà Lê Thị Hoà
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Anh Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút tham gia phiên toà: Ông Hoàng Xuân Dương- Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Jút xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17/6/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Văn C, sinh năm 1986 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn 10, xã C, huyện C, Đ
- Bị đơn: Chị Lý Thị M, sinh năm 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 10, xã C, huyện C, Đ
NỘI DUNG VỤ ÁN
-Theo đơn khởi kiện đề ngày 10/06/2024, bản tự khai, biên bản lấy lời khai nguyên đơn anh Dương Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh C kết hôn với chị M 2011 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hạ Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Việc kết hôn do hai bên tự nguyện không bị ai ép buộc gì. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì xảy ra mâu thuẫn, mẫu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn, con trai đầu là cháu Dương Lập Ngh bị ung thư nên chị M tự ý bỏ nhà đi sau đó không chở về. Đến tháng 10/2023, anh C làm thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tích với chị M. Ngày 26/4/2024, Toà án nhân dân huyện Cư Jut ban hành quyết định tuyên bố một người mất tích số 03/2024/QĐST-VDS đối với chị M. Do vậy, anh C đề nghị được ly hôn với chị M.
Về con chung: Anh C và chị M có 02 con chung là cháu Dương Lập Ngh, sinh ngày 19/02/2010 và Dương Trí M, sinh ngày 21/02/2013. Khi chị M bỏ nhà đi hai cháu ở với anh C từ đó cho đến nay. Vì vậy, khi ly hôn anh C có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 cháu đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, anh C không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Lý Thị M: Qua xác minh tại chính quyền địa phương, chị M có đăng ký hộ khẩu thường trú và không còn sinh sống tại thôn 10, xã C, huyện C, tỉnh Đ. Tòa án nhân dân huyện Cư Jut ban hành Quyết định giải quyết việc dân sự số 03/2024/QĐST – VDS, ngày 26/04/2024 về việc “Tuyên bố một người mất tích” đối với chị Lý Thị M theo yêu cầu của anh Dương Văn C.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn chị Lý Thị M. Tuy nhiên chị M không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải; thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và phiên tòa lần thứ nhất. Vì vậy, Tòa án không tiến hành lấy lời khai được với chị M, không tiến hành hòa giải được giữa các đương sự với nhau.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút có quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và nội dung vụ án:
- Về tổ tụng:
- + Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán từ khi thụ lý vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- + Về người tham gia tố tụng: Nguyên đơn anh Dương Văn C đã nghiêm túc thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định. Bị đơn chị Lý Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không chấp hành giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1 và lần 2, phiên tòa lần thứ nhất và lần 2 bị đơn đều vắng mặt không có lý do, tuy nhiên thẩm phán đã tiến hành lập biên bản và làm các thủ tục đúng theo quy định của pháp luật nên về hình thức tố tụng Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Jút xét thấy đảm bảo đầy đủ và hợp pháp.
- Về nội dung: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn C được ly hôn với chị Lý Thị M.
Về con chung: Giao con chung Dương Lập Ngh, sinh ngày 19/02/2010 và Dương Trí M, sinh ngày 21/02/2013 cho anh C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Dương Văn C yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Cư Jút giải quyết việc ly hôn với chị Lý Thị M, chị M là bị đơn có nơi cư trú tại thôn 10, xã Cư Knia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cư Jút theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
[2] Về chấp hành pháp luật của đương sự: Quá trình giải quyết vụ án Toà án đã tống đạt hợp lệ đúng theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Tố tụng dân sự để thông báo thụ lý vụ án, triệu tập đương sự và các văn bản tố tụng khác cho đương sự. Nguyên đơn chấp hành tốt. Bị đơn đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt nên tại phiên tòa ngày 30/8/2024 Hội đồng xét xử đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của BLTTDS. Quyết định hoãn phiên toà có thông báo thời gian mở lại phiên toà đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc bị đơn không chấp hành pháp luật được coi tự ý từ bỏ quyền được tham gia tố tụng, quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình quy định tại Điều 6, Điều 72 của BLTTDS.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh C kết hôn với chị M 2011 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hạ Thôn, huyện Hà Quảng, tỉnh C Bằng. Việc kết hôn do hai bên tự nguyện không bị ai ép buộc gì. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 07 năm thì xảy ra mâu thuẫn, mẫu thuẫn do kinh tế gia đình khó khăn nên chị M tự ý bỏ nhà đi sau đó không chở về. Đến tháng 10/2023, anh C làm thủ tục yêu cầu tuyên bố mất tích với chị M. Ngày 26/4/2024, Toà án nhân dân huyện Cư Jut ban hanh quyết định tuyên bố một người mất tích số 03/2024/QĐST-VDS đối với chị M. Theo biên bản xác minh ngày 18/6/2024 Ban tự quản thôn 10, xã Cư Knia cho biết: chị M có đăng ký thường trú tại và hiện không còn sinh sông tại thôn 10, xã C, huyện C, tỉnh Đ, chị M đi khỏi địa phương từ năm 2017; đối với mâu thuẫn vợ chồng của anh C và chị M Ban tự quản thôn không nắm được mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng anh C, chị M.
Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.
Tại điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Như vậy, xét yêu cầu khởi kiện của anh Dương Văn C là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử thấy yêu cầu ly hôn của anh Dương Văn C là có cơ sở, cần chấp nhận.
[3.2] Về con chung: Anh Dương Văn C xin được quyền nuôi dưỡng cháu Dương Lập Ngh, sinh ngày 19/02/2010 và Dương Trí M, sinh ngày 21/02/2013 thể hiện trách nhiệm người cha với con cái. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị M vắng mặt và không đưa ra quan điểm về con cái. Qua làm việc với cháu Dương Lập Ngh, Dương Trí M thì cháu Nghĩa và cháu Mân có nguyện vọng ở với anh C. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Nghĩa, cháu Mân cho anh C nuôi dưỡng là phù hợp.
[3.3] Cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình.
[3.4] Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Dương Văn C phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 94; Điều 144; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Dương Văn C được ly hôn chị Lý Thị M.
- Về con chung: Giao con chung Dương Lập Ngh, sinh ngày 19/02/2010 và Dương Trí M, sinh ngày 21/02/2013 cho anh Dương Văn C trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- Quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định tại khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.
- Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
- Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc anh Dương Văn C phải nộp số tiền 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0005098, ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cư Jut, tỉnh Đăk Nông.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Sau khi ly hôn anh Dương Văn C, chị Lý Thị M có các quyền, nghĩa vụ theo các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình như sau:
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nông Thị Hường |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ JÚT, TỈNH ĐẮK NÔNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Nguyên đơn: anh Dương Văn C; bị đơn: chị Lý Thi M.
