|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/DS-ST
Ngày: 17-7-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Nam.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Đỗ Cao Thế và ông Văn Anh Trình
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Mỹ Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Duy Triều, kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 22/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-DS ngày 05/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (B1 – Ngân hàng B); địa chỉ: Số A đường Q, phường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Thái H - Chức vụ: Tổng giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: ông Trần Hữu L - Chức vụ: Giám đốc chi nhánh Q. (Theo văn bản ủy quyền số 19/2023/QĐ-TGĐ ngày 11/01/2023).
Người đại diện theo ủy quyền lại: ông Nguyễn Anh T - Chức vụ: Trưởng phòng kinh doanh; ông Hoàng Văn C - Chức vụ: Trưởng phòng thẩm định; bà Đặng Thị Thu H1- Chức vụ: Chuyên viên quan hệ khách hàng, cùng địa chỉ: Số B đường T, phường N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình. (Theo văn bản ủy quyền số 10/2024/UQ-GĐ ngày 28/02/2024), có mặt.
Bị đơn: ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ,
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 28/02/2024, các bản tự khai, quá trình giải quyết và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày:
Ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ vay vốn tại Ngân hàng B- Chi nhánh Q, theo Hợp đồng tín dụng số: 28/2023/HĐTD - B2 ký ngày 01/02/2023 (Viết tắt HĐTD số 28), bao gồm Khế ước nhận nợ số: 01-28/2022/HĐTD-BacABank ký ngày 01/02/2023, số tiền vay: 1.750.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn cho vay: 06 tháng kể từ ngày 05/05/2023 đến ngày 05/11/2023. Lãi suất: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 13,8 %/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn * 150. Trả nợ gốc: cuối kỳ. Trả nợ lãi: định kỳ ngày 25 hàng tháng. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua tôm giống và thức ăn nuôi tôm.
Để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của HĐTD số 28, ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 28/2022/HĐTC/BacABank.500 ngày 26/01/2022 (Viết tắt là HĐTC số 28) và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PL01-28/2022/HĐTC/BacABank.500 ngày 01/02/2023 (Viết tắt là HĐSĐBSHĐTC số PL01-28). Theo đó tài sản thế chấp là:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số: 840 tờ bản đồ số 08 tại thôn C, xã H, huyện Q, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 418593, số vào sổ cấp GCN CH03093 do UBND huyện Q cấp ngày 17/07/2020 cho ông Mai Văn T1 và bà Trương Thị Đ.
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 1092 tờ bản đồ số 08, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DB 611080, số vào sổ cấp GCN CS04099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 25/08/2021 cho ông Mai Văn T1 và bà Trương Thị Đ.
Thực hiện HĐTD số 28 nêu trên, Ngân hàng B - Chi nhánh Q đã giải ngân đủ cho ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ tổng số tiền: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng chẵn) theo Khế ước nhận nợ số 01-28 nêu trên, có đầy đủ chữ ký của ông T1, bà Đ. Quá trình trả nợ, ông T1, bà Đ đã vi phạm hợp đồng và để quá hạn tiền lãi từ ngày 25/06/2023 đến nay, đồng thời đã quá hạn nợ gốc từ ngày 01/08/2023. Tính đến ngày 17/7/2024, ông T1, bà Đ chưa trả đồng nào nợ gốc; có trả lãi trong hạn 74.973.272 đồng. Do ông T1, bà Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo HĐTD số 28, vì vậy Ngân hàng TMCP B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B theo HĐTD số 28 tạm tính đến ngày 17/7/2024 với tổng số tiền là: 2.147.790.745 đồng (Hai tỷ, một trăm bốn mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 44.875.078 đồng (Bốn mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, không trăm bảy mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn: 352.915.667 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu, chín trăm mười lăm nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) và toàn bộ các khoản lãi phát sinh theo HĐTD số 28 từ ngày 18/7/2024 cho đến ngày ông T1, bà Đ thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng B có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC số 28 và HĐSĐBSHĐTC số PL01-28, đối với các tài sản tài sản thế chấp là:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số: 840 tờ bản đồ số 08 tại thôn C, xã H, huyện Q, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 418593, số vào sổ cấp GCN CH03093 do UBND huyện Q cấp ngày 17/07/2020 cho ông Mai Văn T1 và Bà Trương Thị Đ.
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 1092 tờ bản đồ số 08, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DB 611080, số vào sổ cấp GCN CS04099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 25/08/2021 cho ông Mai Văn T1 và Bà Trương Thị Đ.
Về phía bị đơn ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ trình bày tại bản tự khai ngày 11/4/2024 như sau: ông, bà thừa nhận có vay tại Ngân hàng B - Chi nhánh Q theo HĐTD số 28 ký ngày 01/02/2023 và Khế ước nhận nợ số 01-28 như phía Ngân hàng đã trình bày. Để đảm bảo khoản vay này, ông T1, bà Đ đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 28 và HĐSĐBSHĐTC số PL01-28, tài sản bảo đảm là: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 840 tờ bản đồ số 08 tại thôn C, xã H, huyện Q và Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 1092 tờ bản đồ số 08, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Mai Văn T1 và bà Trương Thị Đ. Ông T1, bà Đ đã nhận đầy đủ số tiền vay 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng) theo HĐTD số 28. Trong quá trình trả nợ, vợ chồng ông bà gặp khó khăn khiến vợ chồng bà không có khả năng trả nợ đúng hạn. Đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện kéo dài thời gian trả nợ để gia đình tháo gỡ khó khăn, đồng thời xét miễn giảm lãi cho vợ chồng ông, bà.
Tòa án đã tổ chức các buổi hòa giải cho các đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án, tuy nhiên các bên đương sự không đi đến thỏa thuận thống nhất lộ trình thời gian trả nợ và giải quyết toàn bộ vụ án nên việc hòa giải không thành.
Tòa án cũng đã tổ chức xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là QDS và tài sản gắn liền với đất của các thửa đất số 840; số 1092 tờ bản đồ số 08 tại thôn C, xã H, huyện Q. Theo Biên bản thẩm định và sơ đồ thẩm định ngày 13/5/2024 thì hiện trạng sử dụng các thửa đất trên phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Không có tài sản xây dựng công trình cũng như cây trồng lâu năm trên 02 thửa đất này.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Đối với đương sự: phía nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do là không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng các điều 299, 323, 357, 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 90, 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị tuyên buộc ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B theo HĐTD số 28 tạm tính đến ngày 17/7/2024 với tổng số tiền là: 2.147.790.745 đồng (Hai tỷ, một trăm bốn mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc: 1.750,000,000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 44.875.078 đồng (Bốn mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, không trăm bảy mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn: 352.915.667 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu, chín trăm mười lăm nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) và toàn bộ các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 28 từ ngày 18/7/2024 cho đến ngày ông T1, bà Đ thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
Trường hợp ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo HĐTC số 28 và HDSDBSHÐTC số PL01-28.
Đề nghị Tòa án tuyên buộc bị đơn chịu nghĩa vụ về án phí, chi phí tố tụng khác theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả hỏi, tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Ngân hàng B khởi kiện bị đơn ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ yêu cầu thanh toán tiền vay do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bị đơn có nơi cư trú tại thôn C, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Xác định vụ án có quan hệ tranh chấp Hợp đồng tín dụng; Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
Quá trình giải quyết vụ án, phía bị đơn có mặt tại Tòa án tự viết bản tự khai, tham gia hòa giải. Tuy nhiên tại phiên tòa lần thứ hai, Tòa án triệu tập hợp lệ các đương sự nhưng phía bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2]. Về nội dung yêu cầu khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng:
Nhận thấy ngày 01/02/2023, ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ ký kết HĐTD số 28 để vay vốn tại Ngân hàng B - Chi nhánh Q, bao gồm 01 khế ước nhận nợ số: 01-28/2022/HĐTD-BacABank, số tiền: 1.750.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng). Thời hạn cho vay: 06 tháng kể từ ngày 05/05/2023 đến ngày 05/11/2023. Lãi suất: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 13,8 %/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn * 150%. Trả nợ gốc: cuối kỳ. Trả nợ lãi: định kỳ ngày 25 hàng tháng. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua tôm giống và thức ăn nuôi tôm.
Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ trên, ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ đã ký kết Hợp đồng thế chấp số 28 và HĐSĐBSHĐTC số PL01-28. Theo đó, tài sản thế chấp là:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số: 840 tờ bản đồ số 08 tại thôn C, xã H, huyện Q, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 418593, số vào sổ cấp GCN CH03093 do UBND huyện Q cấp ngày 17/07/2020 cho ông Mai Văn T1 và Bà Trương Thị Đ.
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 1092 tờ bản đồ số 08, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DB 611080, số vào sổ cấp GCN CS04099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 25/08/2021 cho ông Mai Văn T1 và Bà Trương Thị Đ.
Xét các Hợp đồng nêu trên được các bên ký kết hoàn toàn tự nguyện; về hình thức, nội dung, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng thế chấp có đăng ký tài sản bảo đảm tại cơ quan thẩm quyền theo quy định của pháp luật; vì vậy các Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp nêu trên có hiệu lực thực hiện kể từ ngày ký kết, các bên phải có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện các điều khoản theo các Hợp đồng này.
Về lãi suất theo Khế ước số 01-28: Lãi suất cho vay cố định trong suốt thời gian vay là 13,8 %/Năm. Lãi suất nợ quá hạn = lãi suất trong hạn * 150% là phù hợp quy định theo Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng nên các thỏa thuận về lãi suất là hợp pháp.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng B - Chi nhánh Q đã giải ngân đủ cho ông Mai Văn T1 và bà Trương Thị Đ tổng số tiền: 1.750.000.000 đồng (Bằng chữ: Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng) theo Khế ước số 01-28. Quá trình trả nợ, ông T1, bà Đ để quá hạn tiền lãi từ ngày 25/06/2023 và quá hạn nợ gốc từ ngày 01/08/2023. Tính đến ngày 17/7/2024, ông T1, bà Đ chưa trả đồng nào nợ gốc; có trả lãi trong hạn 74.973.272 đồng, là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo HĐTD số 28. Căn cứ theo thỏa thuận tại Điều 11, 12, 15 của HĐTD số 28 và theo quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự, Ngân hàng B khởi kiện yêu cầu ông T1, bà Đ trả nợ gốc và lãi theo HĐTD số 28 là có cơ sở. Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về buộc ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng B theo Hợp đồng tín dụng số 28, tạm tính đến ngày 17/7/2024 số tiền là: 2.147.790.745 đồng (Hai tỷ, một trăm bốn mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 44.875.078 đồng (Bốn mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, không trăm bảy mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn: 352.915.667 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu, chín trăm mười lăm nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đồng) và toàn bộ các khoản lãi phát sinh theo HĐTD số 28 từ ngày 18/7/2024 cho đến ngày ông T1, bà Đ thanh toán xong nghĩa vụ trả nợ.
[3]. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp số 28 và HĐSĐBSHĐTC số PL01-28 trong trường hợp ông T1, bà Đ không trả tiền gốc và nợ lãi phát sinh theo HĐTD số 28: Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 318, 319, 325 của Bộ luật dân sự; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 15 của HĐTD số 28; Điều 6 của HĐTC số 28 để chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng.
[4]. Về chí phí tố tụng: Căn cứ vào Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên cần buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã nộp tạm ứng chi phí, nên cần buộc bị đơn ông T1, bà Đ phải hoàn trả lại cho Ngân hàng B về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 773 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 292, 293, 295, 298, 299, 318, 319, 322, 323, 325, 357, 401, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự 2015; Điều 90, 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (B1). Buộc ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B tạm tính đến ngày 17/7/2024 với tổng số tiền là: 2.147.790.745 đồng (Hai tỷ, một trăm bốn mươi bảy triệu, bảy trăm chín mươi nghìn, bảy trăm bốn mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc: 1.750.000.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm năm mươi triệu đồng), nợ lãi trong hạn 44.875.078 đồng (Bốn mươi bốn triệu, tám trăm bảy mươi lăm nghìn, không trăm bảy mươi tám đồng), nợ lãi quá hạn: 352.915.667 đồng (Ba trăm năm mươi hai triệu, chín trăm mười lăm nghìn, sáu trăm sáu mươi bảy đông), theo Hợp đồng tín dụng 28/2023/HĐTD - B2 ký ngày 01/02/2023, bao gồm Khế ước nhận nợ số: 01-28/2022/HĐTD-BacABank ký ngày 01/02/2023.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm 17/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng 28/2023/HĐTD - B2 ký ngày 01/02/2023, bao gồm Khế ước nhận nợ số: 01-28/2022/HĐTD-BacABank ký ngày 01/02/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần B - chi nhánh Q với ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ.
-
Trong trường hợp ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ không trả nợ hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp đối với:
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số: 840 tờ bản đồ số 08 tại thôn C, xã H, huyện Q, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CR 418593, số vào sổ cấp GCN CH03093 do UBND huyện Q cấp ngày 17/07/2020 cho ông Mai Văn T1 và bà Trương Thị Đ.
- + Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của thửa đất số 1092 tờ bản đồ số 08, được cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành DB 611080, số vào sổ cấp GCN CS04099 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 25/08/2021 cho ông Mai Văn T1 và bà Trương Thị Đ.
Theo Hợp đồng thế chấp số 28/2022/HĐTC/BacABank.500 ngày 26/01/2022 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số PL01-28/2022/HĐTC/BacABank.500 ngày 01/02/2023 được ký kết giữa Ngân hàng B - Chi nhánh Q và ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ.
- Về chi phí tố tụng: Buộc ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm nghìn đồng) về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
-
Về án phí sơ thẩm: Buộc ông Mai Văn T1, bà Trương Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 74.955.814 đồng (Bảy mươi bốn triệu, chín trăm năm mươi lăm nghìn, tám trăm mười bốn đồng).
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B được nhận lại số tiền 36.071.000 đồng (Ba mươi sáu triệu không trăm bảy mươi mốt nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003791 ngày 13/3/2024.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 17/7/2024. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Nam |
Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 26/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Bắc Á buộc Mai Văn Tý, Trương Thị Đoàn thực hiện trả nợ theo HĐTD
