Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 17/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Thung
  2. Ông Châu Văn Tài

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đặng Hoàng S, sinh năm 1974, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Mua bán; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông: Đặng Văn P, sinh năm 1947 (chết), con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1950; Bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Đặng Thị Ngọc D, sinh năm 1978; Có 02 con lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/02/2023; Tạm giam ngày 01/02/2023; Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Hoàng S theo yêu cầu: Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H1 - Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ và Luật sư Lê Xuân T - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

2. Đặng Phước Q, sinh năm 1995, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Đặng Thành T1, sinh năm 1972, con bà: Lê Thị D1, sinh năm 1977; Bị cáo có 01 anh chị em, bị cáo lớn nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ ngày 23/01/2023 đến ngày 01/01/2023; Tạm giam ngày 01/02/2023. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Phước Q theo yêu cầu: Luật sư Lê Xuân T - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H (có mặt).

Bị hại:

  1. Huỳnh Thanh C, sinh năm 1975 (vắng mặt);
    Nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, Đồng Tháp.
  2. SO PITOU, sinh năm 1970 (vắng mặt);
  3. SEN PHEAN, sinh năm 1967 (vắng mặt);
    Cùng cư trú: ấp P, xã B, huyện P, tỉnh Pray Veng, Vương quốc Campuchia.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Đặng Thị Ngọc D, sinh năm: 1985 (có mặt);
  2. Đặng Hoàng D2, sinh năm 1976 (có mặt);
    Cùng cư trú: ấp G, xã T, huyện T, Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Huỳnh Thị Hồng N, sinh năm 2003 (vắng mặt);
  2. Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1974 (vắng mặt);
  3. Nguyễn Văn M, sinh năm 1974 (vắng mặt);
  4. Phạm Văn T2, sinh năm 1989 (vắng mặt);
  5. Trương Thị Kim H2, sinh năm 1977 (vắng mặt);
  6. Phạm Văn T3, sinh năm 1963 (vắng mặt);
    Cùng cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Người phiên dịch: Ông Dương Hoàng N1 – Cộng tác viên Phiên dịch tiếng Khmer – Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp; Nơi công tác: Phòng An ninh đối ngoại Công an tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 22/01/2023 (nhằm mùng 01 Tết) Đặng Hoàng S đi chúc tết bằng xe ô tô 04 chỗ biển số 66A-026.58 có chở theo vợ là Đặng Thị Ngọc D và cháu ruột là Đặng Phước Q (S và Q đều có sử dụng rượu, bia) đi trên tuyến đường từ cầu K xuống địa phận trại 4. Khi đến trước cửa nhà Huỳnh Thanh C, thuộc ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp có một xe ô tô bán tải (05 chỗ ngồi) mang biển số của V Campuchia đậu bên lề; do đường hẹp xe của S không qua được nên S dừng lại bấm còi liên tục. Lúc này nhà anh C có tổ chức tiệc nhậu Tết ở nhà trước gồm: C, Nguyễn Thị Đ (vợ C), Huỳnh Thị Hồng N (con C), vợ chồng X (là ông SENG HEANG Trưởng Công an huyện P) và 02 người Campuchia (là ông SEN PHEAN và ông SO PITOU). Nghe tiếng còi xe chị Đ (vợ C) đi ra gặp S nói “Sĩ em có lùi xe lại được không, nếu không được thì tôi vào kêu mấy ngư ời Miên ra lùi xe cho chú qua”, S nói “Không, xe Campuchia hả đụng thấy mẹ”, chị Đ nói “Sao em nói kỳ vậy”, S nói “ĐM bà chứ lùi, đường này mà lùi”. C nghe vậy nên ở chỗ bàn nhậu đứng lên chửi “ĐM mày không lùi xe thì người ta lùi mày đòi đánh gì, tao đánh mày chết mẹ mày”, S cầm dao tay phải đi đến chỗ bàn nhậu nói “Tao đâm chết mẹ mày” thì S đâm trúng vùng giữa trán, ngực trái, lưng trái anh C (giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể 09%, do vật sắc bén gây ra) nên người nhà kéo anh C vào nhà đóng cửa lại. Tiếp đến, S quay sang đâm ông S1 trúng 06 vết thương ở gò má phải, vùng gốc mũi, vùng lưng trái, đỉnh phải, chẩm-thái dương phải, đỉnh-thái dương trái (giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%, do vật sắc gây ra). Còn Q cũng xuống xe ở ngoài lộ nghe người Campuchia (ông SEN PHEAN) chửi Quí nên lượm gạch ống ném và lấy ghế mũ, ly thủy tinh đánh ông SEN PHEAN trúng 08 vết thương ở trán phải, trán trái, vùng giữa chẩm, giữa đỉnh, khuỷu tay trái, gãy răng 2.2 (giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể 22%, do vật tày gây ra). Sau đó được mọi người can ngăn, S đi ra đường chỗ đậu xe ném con dao xuống mé đường và dùng chân đá con dao xuống mé kinh “Tân Hòa”, rồi S, Q và D lên xe ô tô thì ông SO PITOU lượm cục gạch ống, ném làm nứt kính chắn gió phía trước xe ô tô của S, sau đó Q lái xe chạy về nhà. Còn ông SEN PHEAN, ông SO PITOU và ông C được người dân đưa vào Bệnh viện T4 cấp cứu điều trị.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 22/01/2023, qua khám nghiệm thu giữ một con dao bấm, cán bằng nhựa dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm;

Tại biên bản nhận dạng ngày 28/4/2023, Đặng Hoàng S nhận dạng được con dao số 03 là con dao do S sử dụng để gây thương tích cũng là con dao đã thu giữ tại hiện trường;

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 79 ngày 30/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với ông SO PITOU như sau:

+ Vết thương phần mềm gò má phải, kích thước 03cm x 0,3cm. Tỷ lệ tổn thương: 06%;

+ Vết thương phần mềm vùng gốc mũi, kích thước 1,5cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương: 03%;

+ Bốn (04) vết thương phần mềm vùng lung trái, đỉnh phải, chẩm-thái dương phải, đỉnh-thái dương trái, kích thước nhỏ. Mỗi vết: 01%;

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông SO PITOU hiện tại là: 12%, theo nguyên tắc công lùi. Các tổn thương trên do vật sắc gây ra.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 78 ngày 30/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với ông Huỳnh Thanh C:

+ Vết thương phần mềm từ giữa trán đến chân mày trái, kích thước 07cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương: 06%;

+ Vết thương phần mềm vùng ngực trái, kích thước 02cm x 0,2 cm. Tỷ lệ tổn thương: 01%;

+ Vết thương phần mềm vùng lưng trái, kích thước 2,5cm x 1,5cm. Tỷ lệ tổn thương: 02%;

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông C hiện tại là: 09%, theo nguyên tắc công lùi. Các tổn thương trên do vật sắc bén gây ra.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 77 ngày 30/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đổi với ông SEN PHEAN như sau:

+ Ba (03) vết thương phần mềm vùng trán phải, giữa trán, kích thước nhỏ. Mỗi vết: 03%;

+ Vết thương phần mềm vùng trán trái, kích thước 04cm x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương: 06%;

+ Vết thương phần mềm vùng giữa chẩm, kích thước 5,5cm x 01cm. Tỷ lệ tổn thương: 03%;

+ Vết thương phần mềm vùng giữa đỉnh, kích thước 1,5cm x 01cm. Tỷ lệ tổn thương: 02%;

+ Vết thương phần mềm khuỷu tay trái, kích thước 1,5cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương: 01%;

+ Vết biến đổi sắc tố da vùng đỉnh-trán trái. Tỷ lệ tổn thương: 01%;

+ Gãy răng 2.2. Tỷ lệ tổn thương: 02%;

Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông SEN PHEAN hiện tại là: 22%, theo nguyên tắc công lùi. Các tổn thương trên do vật tày gây ra.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản cấp tỉnh ngày 04/8/2023 kết luận: Nắp capot có vết trấy tróc sơn, kích thước 08cm x 0,7cm; Kính xe ô tô phía trước có vết nứt bể, kích thước 45cm x 70cm. Tổng giá trị tài sản định giá (làm tròn) 1.900.000 đồng;

Tang vật thu giữ: Tại Biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 24/01/2023 tại nhà của Nguyễn Thị Đ gồm: Một ghế nhựa màu xanh cao 76,5 cm, bị gãy bể phần ngồi kích thước 12cm x 02cm; Một khúc gỗ (loại chài đâm tiêu) dài 20cm, dạng tròn đường kính 04cm trên thân gỗ có dính màu nâu; Hai viên gạch ống 04 lỗ kích thước 17cm x 7,5cm x 7,5cm; có một viên bể một lỗ có dính màu nâu; Sáu mãnh vỡ ly thủy tinh có quai cầm; Năm mãnh vở màu trắng của đĩa và chén sành;

Tại biên bản khám phương tiện hồi 07h ngày 23/01/2023 khám phương tiện xe ô tô biển số 66A-026.58, nhãn hiệu TOYOTA màu đen như sau:

+ Nắp ca pô có vết trấy tróc sơn kích thước 08cm x 0,7cm;

+ Kính xe ô tô phía trước có vết bị nứt bể kích thước 45cm x 70cm;

Tại biên bản trả lại xe ô tô hồi 07h50 phút ngày 23/01/2023 trả lại một xe ô tô biển số 66A-026.58 cho Đặng Hoàng S;

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo tác động gia đình đã bồi thường cho ông SEN PHEAN 100.000.000 đồng, ông SO PITOU 220.000.000 đồng, ông Huỳnh Thanh C 78.000.000 đồng. Đồng thời các bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự và dân sự đối với các bị cáo.

Tại cáo trạng số 25/CT-VKSĐT-P2 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng S từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Xử phạt bị cáo Đặng Phước Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường xong cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về xử lý vật chứng, đề nghị Tòa tuyên như phần nội dung quyết định bản cáo trạng đã nêu.

Luật sư Huỳnh Thị Quỳnh H1 bào chữa cho bị cáo Đặng Hoàng S phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo S. Vị luật sư cũng viện dẫn về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo và cho rằng phía bị hại cũng có một phần lỗi. Bị cáo cũng bị phía bị hại dùng hung khí đánh vào người gây thương tích và làm hư hỏng xe, bị thiệt hại về tài sản. Đồng thời, vị luật sư cũng nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tác động gia đình khắc phục bồi thường toàn bộ hậu quả cho phía người bị hại, được các bị hại làm đơn yêu cầu không xử lý hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, người thân của bị cáo là liệt sỹ, người có công với Nhà nước được tặng thưởng Huân chương. Bị cáo là bộ đội phục viên, là lao động chính trong gia đình, có tham gia đóng góp, giúp đỡ nhân dân và chính quyền địa phương trong đợt dịch Covid19. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Do bị cáo đã bị tạm giam giữ 01 năm 04 tháng 24 ngày, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo bằng thời gian đã tạm giam giữ bị cáo.

Luật sư Lê Xuân T bào chữa cho các bị cáo Đặng Hoàng S, Đặng Phước Q phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với các bị cáo và thống nhất với quan điểm của vị luật sư đồng nghiệp về các tình tiết giảm nhẹ đã nêu đối với bị cáo S. Vị luật sư cũng nêu ra các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo Q như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo tác động gia đình khắc phục bồi thường toàn bộ hậu quả cho bị hại, được bị hại làm đơn yêu cầu không xử lý hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, người thân của bị cáo là liệt sỹ, người có công với Nhà nước được tặng thưởng Huân chương. Bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, là lao động chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử các bị cáo bằng thời gian đã tạm giam giữ hoặc cho các bị cáo được hưởng án treo.

Các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q không có ý kiến tranh luận, không bào chữa bổ sung, thống nhất với quan điểm của các vị luật sư bào chữa. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà sơ thẩm, các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do có lời qua tiếng lại trong việc bên bị hại đậu xe ô tô ngoài đường làm cho xe ô tô của bị cáo Đặng Hoàng S không qua được nên bị cáo S dùng dao gây thương tích cho anh Huỳnh Thanh C và ông SO PITOU. Còn bị cáo Đặng Phước Q dùng gạch ống, ghế mũ, ly thủy tinh gây thương tích cho ông SEN PHEAN. Hậu quả là anh Huỳnh Thanh C bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ thương tật là 09%, ông S2 PITOU bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ thương tật là 12%, còn ông SEN PHEAN bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ thương tật là 22%.

Lời khai nhận của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng hung khí nguy hiểm;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

[3] Các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng P1 là người đã trưởng thành, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Đáng lý ra, trước sự việc như vậy, các bị cáo phải bình tĩnh, kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn thì sẽ không xảy ra sự việc đáng tiếc. Các bị cáo không làm được điều này mà lại chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực nên các bị cáo đã thực hiện hành vi như đã nêu trên. Các bị cáo đều nhận thức được con dao bằng kim loại, gạch ống, ghế mũ và ly thủy tinh là hung khí nguy hiểm, nhận thức được việc dùng con dao bằng kim loại, gạch ống, ghế mũ, ly thủy tinh này tác động vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích. Các bị cáo cũng thừa biết sức khỏe, tính mạng con người luôn được pháp luật bảo vệ. Nếu người nào có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng con người đều bị pháp luật xử lý. Vậy mà các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội và hậu quả đã xảy ra, làm cho các bị hại Huỳnh Thanh C, So PITOU và SEN PHEAN bị tổn thương cơ thể với tổng tỷ lệ thương tật lần lượt là 09%, 12% và 22%. Chứng tỏ hành vi của các bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[4] Trong vụ án này, tuy các bị cáo cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, cũng không có sự bàn bạc, sắp đặt vai trò cụ thể cho nhau và cũng không có sự điều khiển của người nào nên đây chỉ là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về nhân thân, hành vi, động cơ, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.

Bị cáo Đặng Hoàng S là người điều khiển xe, xuống xe cự cãi với phía bị hại trước, trực tiếp dùng dao đâm gây thương tích cho hai người bị hại là anh C và ông S2 PITOU. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án.

Còn bị cáo Đặng Phước Q tham gia cùng với S, bị cáo đã sử dụng gạch ống, ghế mũ, ly thủy tinh ném gây thương tích cho bị hại SEN PHEAN. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm với vai trò là đồng phạm giúp sức.

[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của các bị hại Huỳnh Thanh C, SEN PHEAN và SO PITOU một cách trái pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà nước. Đối với các bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo giáo dục các bị cáo, nhằm phục vụ tình hình chính trị ở địa phương, giữ gìn kỷ cương pháp luật Nhà nước, đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; cả hai bị cáo đã tác động gia đình khắc phục xong toàn bộ hậu quả cho các bị hại và được các bị hại SEN PHEAN và SO PITOU có đơn không yêu cầu không xử lý hình sự, bị hại Huỳnh Thanh C có đơn không yêu cầu xử lý hình sự và đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo; gia đình của cả hai bị cáo đều có người thân là liệt sỹ, người có công với đất nước được tặng thưởng Huân chương; Cả hai bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền sự, tiền án, đều là lao động chính trong gia đình. Riêng bị cáo S là bộ đội phục viên, có tham gia đóng góp, giúp đỡ nhân dân và chính quyền địa phương nhất là trong đợt dịch Covid19. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, cũng cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần về hình phạt.

[7] Đối với hành vi của SO PITOU lượm cục đá ném trúng nắp capot làm trầy tróc sơn và làm nứt kính xe ô tô của bị cáo S. Hội đồng xét xử xét thấy đây là hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Điều 178 Bộ luật Hình sư, nhưng theo Kết quả định giá tài sản bị thiệt hại là 1.900.000 đồng nên chưa đủ căn cứ xử lý hình sự và gia đình bị cáo S cũng không yêu cầu bồi thường nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết là phù hợp.

Đối với hành vi cự cãi, đánh nhau trước nhà ông Huỳnh Thanh C, tuy có gây mất trật tự công cộng nhưng chỉ diễn ra trong thời gian ngắn và đường nông thôn, dân cư thưa thớt, người dân không ai phản ánh nên Hội đồng xét xử xét thấy chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

[8] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

Xét lời bào chữa của các vị luật sư bào chữa cho các bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận. Đối với phần trình bày khác của các luật sư nêu ra để bào chữa cho các bị cáo như ở phần trên là một trong những cơ sở để Hội đồng xét xử đánh giá khi quyết định hình phạt.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã bồi thường xong cho các bị hại, các bị hại không yêu cầu gì thêm nên không đặt vấn đề giải quyết.

[10] Về vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bấm, cán bằng nhựa dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm; 01 (một) ghế nhựa màu xanh cao 76,5 cm, bị gãy bể phần ngồi kích thước 12cm x 02cm; 01 (một) khúc gỗ (loại chài đâm tiêu) dài 20cm, dạng tròn đường kính 04cm trên thân gỗ có dính màu nâu; 02 (hai) viên gạch ống 04 lỗ kích thước 17cm x 7,5cm x 7,5cm; có một viên bể một lỗ có dính màu nâu; 06 (sáu) mảnh vỡ ly thủy tinh; 05 (năm) mảnh vỡ màu trắng của đĩa và chén sành là công cụ gây án và là những vật không còn giá trị sử dụng. Xét thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.

(Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

Đối với 01 (một) thẻ nhớ MICRO SD M203, nhãn hiệu TOSHIBA, dung lượng 16GB (thẻ đã qua sử dụng). Xét thấy cần tịch thu lưu hồ sơ vụ án.

[11] Về án phí: Các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Đặng Hoàng S 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2023.

Xử phạt bị cáo Đặng Phước Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/01/2023.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bấm, cán bằng nhựa dài 11,5cm, lưỡi dao bằng kim loại màu trắng dài 8,5cm; 01 (một) ghế nhựa màu xanh cao 76,5 cm, bị gãy bể phần ngồi kích thước 12cm x 02cm; 01 (một) khúc gỗ (loại chài đâm tiêu) dài 20cm, dạng tròn đường kính 04cm trên thân gỗ có dính màu nâu; 02 (hai) viên gạch ống 04 lỗ kích thước 17cm x 7,5cm x 7,5cm; có một viên bể một lỗ có dính màu nâu; 06 (sáu) mảnh vỡ ly thủy tinh; 05 (năm) mảnh vỡ màu trắng của đĩa và chén sành.

(Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

Tịch thu để vào hồ sơ 01 (một) thẻ nhớ MICRO SD M203, nhãn hiệu TOSHIBA, dung lượng 16GB (thẻ đã qua sử dụng).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đặng Hoàng S và Đặng Phước Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP.HCM;
  • - VKSNDCC tại TP.HCM;
  • - Ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh ĐT;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh ĐT;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV – THA TA tỉnh ĐT;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng nghiệp vụ hồ sơ CA tỉnh ĐT;
  • - Bị cáo, bị hại, BNC, NLQ;
  • - Lưu HSVA, VT (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger