Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 17-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Đức Tâm;
  2. Ông Phạm Thành Đồng.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Lan Chi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Đệ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lâm Hoàng L, sinh năm 2003 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp L, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lâm Văn T, sinh năm 1969 và bà Phan Thị Mỹ T1, sinh năm 1977; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/01/2024 cho đến nay. (Có mặt)

* Bị hại:

Ông Phan Thanh H, sinh năm 1979 (Có mặt);

Nơi cư trú: ấp T, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.

* Người làm chứng:

- Ông Lê Văn L1, sinh năm 1974 (Vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Anh Trần Vĩnh K, sinh năm 2001 (Có mặt);

Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Bến Tre.

- Anh Lê Văn T2, sinh năm 2000 (Vắng mặt);

Nơi cư trú: ấp M, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 27/02/2023, tại nhà ông Lê Văn L1 ở ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre có tổ chức uống rượu gồm: ông L1, bị hại ông Phan Thanh H, anh Trần Vĩnh K, anh Lê Văn T2 và bị cáo Lâm Hoàng L. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo L có công việc cá nhân nên xin phép mọi người về trước. Ông L1 nói “hồi nảy ai nói hạ được chủ nhà sỉn mới được về” và ông L1 không cho bị cáo L về. Bị hại ông H cũng nói lại lời của ông L1 và không cho bị cáo L về nên xảy ra cự cãi giữa bị cáo L với ông L1 và bị hại ông H. Ông L1 ném ly rượu xuống nền nhà làm bể ly rượu, bị cáo L dùng tay đập xuống mặt bàn nơi đang ngồi nhậu làm rơi chén, dĩa xuống nền nhà bị bể rồi lấy trong túi quần ra 01 (một) con dao (loại dao bấm) cầm trên tay. Thấy vậy, anh K giật lấy con dao bấm của bị cáo L bỏ vào túi quần cất giữ, bị hại ông H kéo bị cáo L ra bên hông trước sân nhà của ông L1 nói chuyện rồi cả hai cự cãi, bị cáo L xô bị hại ông H té xuống mương. Anh K và anh T2 trong bàn nhậu đi ra can ngăn rồi kéo bị cáo L ra trước cổng rào nhà ông L1, bị cáo L xô anh K té xuống mương, anh T2 vào can ngăn nên xảy ra xô xát giữa bị cáo L với anh T2 và anh K, nhưng không ai bị thương tích. Sau đó, bị cáo L, anh K và anh T2 đi vào sân nhà của ông L1, bị cáo L lấy xe mô tô biển số 71H1-015.50 của bị cáo định ra về.

Khi bị bị cáo L xô té xuống mương nước, bị hại ông H đi xuống nhà sau của ông L1 cởi áo và quần dài đang mặc trên người ra, chỉ mặc quần đùi rồi đi lên sân nhà của ông L1. Bị hại ông H khai bị cáo L chạy xuống nhà bếp của ông L1 lấy 01 (một) con dao Thái Lan và 01 (một) con dao yếm cầm trên tay chạy lên sân nhà của ông L1 rượt ông, ông mới lấy các viên gạch ống ném về phía bị cáo đang đứng, khi đó có người can ngăn nhưng ông không nhớ là ai; sau đó hai bên đánh nhau, bị cáo đi lại chỗ ông đứng dùng dao tấn công ông, ông mới cầm gạch ống đi lại đánh trúng vào hai tay và mũ bảo hiểm của bị cáo đang đội trên đầu làm cho bị cáo té xuống đất, ông tiếp tục cầm gạch xông vào để đánh bị cáo. Còn bị cáo L khai bị hại ông H lấy các viên gạch ống ném về phía bị cáo đang đứng nhưng không trúng, bị cáo mới chạy xuống nhà bếp của ông L1 lấy 01 (một) con dao Thái Lan và 01 (một) con dao yếm cầm trên tay chạy lên sân nhà của ông L1 nhưng được anh K can ngăn; bị cáo bảo anh K đưa lại con dao bấm cho bị cáo để bị cáo về, anh K đưa con dao bấm cho bị cáo, bị cáo đưa lại con yếm cho anh K, anh K lấy con dao yếm ném bỏ về phía trước sân, bị cáo đi lại xe môtô định lấy xe đi về thì bị hại cầm gạch ống đi lại đánh trúng vào hai tay và mũ bảo hiểm của bị cáo đang đội trên đầu làm cho bị cáo té xuống đất, bị hại tiếp tục cầm gạch xông vào để đánh bị cáo.

Lúc này, bị cáo L đang ngồi dưới đất tay phải cầm con dao Thái Lan, tay trái cầm con dao bấm đâm nhiều nhát về phía người của bị hại ông H trúng vào 02 chân của bị hại. Bị bị cáo L đâm, bị hại ông H đi vào thềm ba nhà của ông L1 nằm xuống. Thấy bị hại ông H chảy nhiều máu nên anh K và anh T2 chở bị hại đi bệnh viện cấp cứu và điều trị thương tích, bị cáo L được mời đến trụ sở Công an xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre làm việc.

Cơ quan điều tra tạm giữ đồ vật, tài sản gồm:

  • Tạm giữ qua khám nghiệm hiện trường: 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm; 01 (một) con dao bấm (dao xếp) bằng kim loại dài 24cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10cm; 01 (một) con dao loại sắc thịt dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20,5cm, cán dẹp bằng gỗ, trên lưỡi dao có khắc chữ THUV; 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10,6cm, trên lưỡi dao có khắc chữ BRAND MADE IN THAI LAN; 01 (một) con dao loại dao yếm dài 37,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm, cán bằng gỗ hình tròn đường kính 3,3cm; 06 (sáu) chiếc dép nam bằng nhựa màu đen; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, phía trước áo có ghi chữ ĐÃ CÓ BỒ Sam store; 02 mảnh vỡ của dĩa bằng sứ; 02 (hai) mảnh vỡ của chén bằng sứ; 03 (ba) mảnh vỡ của viên gạch ống màu đỏ; 01 (một) mảnh vỡ của ly bằng sứ; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh có dính nhiều vết màu nâu đỏ; 02 (hai) mẫu máu; 01 (một) xe môtô, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu sơn xám đen, biển số 71H1-015.50.
  • Tạm giữ của bị cáo L: 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu xanh, góc trái phía trước mũ bị bể phần nhựa dài 6cm, rộng 4,5cm; 01 (một) áo sơ mi tay nam tay ngắn màu đen, phía sau lưng áo có ghi chữ BEAVER và nhân vật hoạt hình phi hành gia, phần tay áo và thân áo bên trái bị rách đường chỉ may dài 32cm; 01 (một) quần ka-ki màu xám, dài 93cm, mặt trước và mặt sau quần dính nhiều vết màu nâu đỏ.
  • Tạm giữ của anh K: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, vỏ màu xanh, bên trong gắn sim số 0398.179.713.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 135/23/KLTTCT-TTPYBT ngày 29/5/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bến Tre kết luận về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của bị hại ông H là 37% (ba mươi bảy phần trăm), cơ chế hình thành thương tích là do vật sắc nhọn gây ra.

Tại kết luận giám định số 2301/KL-KTHS ngày 27/4/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận về gen (AND) có nội dung như sau: phân tích được 01 kiểu gen nam từ mẫu máu trên dao gấp (dao bấm), máu hiện trường tại vị trí số 03 và số 11 trùng với kiểu gen của bị hại ông H.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 34/24/KLTTCT-TTPYBT ngày 31/01/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Bến Tre kết luận về tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích của bị cáo L là 03% (ba phần trăm), cơ chế hình thành thương tích là do vật tày tác động trực tiếp gây ra.

Bị cáo L đã tự nguyện viết đơn không yêu cầu xử lý hình sự đối với bị hại ông H và không có yêu cầu bị hại phải bồi thường thiệt hại.

Quá trình điều tra, bị cáo L khai nhận hành vi phạm tội cố ý gây thương tích của mình, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, gắn sim số 0398.179.713 thuộc sở hữu của anh K, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Bến Tre đã trả lại cho anh K là phù hợp với quy định pháp luật.

- Đối với các vật chứng còn lại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Bến Tre tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự:

- Bị hại ông H yêu cầu bị cáo L bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 116.200.000 (một trăm mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng, bị cáo đồng ý và đã bồi thường được số tiền 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng; số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, bị cáo cam kết sẽ tiếp tục bồi thường cho bị hại khi có điều kiện.

- Ông L1 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số chén, dĩa và gạch ống bị vỡ trong quá trình bị cáo L và bị hại ông H gây gổ, đánh nhau.

Tại Bản cáo trạng số 24/CT-VKSGT ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo L phạm tội “Cố ý gây thương tích".

- Về trách nhiệm hình sự:

Áp dụng điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo L có mức án từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.

Hình phạt bổ sung: không.

- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự:

Đề nghị ghi nhận bị cáo L đã bồi thường cho bị hại ông H số tiền là 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng, ghi nhận bị cáo L đồng ý bồi thường cho bị hại ông H số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng; ghi nhận ông L1 không có yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số chén, dĩa và gạch ống bị vỡ trong quá trình bị cáo L và bị hại ông H gây gổ, đánh nhau.

- Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Đề nghị ghi nhận: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Bến Tre đã giao trả cho anh K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, gắn sim số 0398.179.713, do thuộc sở hữu của anh K và không liên quan đến vụ án; 02 (hai) mẫu máu thu được tại hiện trường đã tiêu hủy sau khi giám định.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm và 01 (một) con dao bấm (dao xếp) bằng kim loại dài 24cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10cm, do bị cáo L dùng thực hiện hành vi phạm tội.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) con dao loại sắc thịt dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20,5cm, cán dẹp bằng gỗ, trên lưỡi dao có khắc chữ THUV; 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10,6cm, trên lưỡi dao có khắc chữ BRAND MADE IN THAI LAN; 01 (một) con dao loại dao yếm dài 37,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm, cán bằng gỗ hình tròn đường kính 3,3cm, do chủ sở hữu là ông L1 không có yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 06 (sáu) chiếc dép nam bằng nhựa màu đen; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, phía trước áo có ghi chữ ĐÃ CÓ BỒ Sam store, do thuộc sở hữu của bị cáo L, bị hại ông H, anh T2 và anh K; bị cáo, bị hại, anh T2 và anh K không có yêu cầu nhận lại.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 02 mảnh vỡ của dĩa bằng sứ; 02 (hai) mảnh vỡ của chén bằng sứ; 03 (ba) mảnh vỡ của viên gạch ống màu đỏ; 01 (một) mảnh vỡ của ly bằng sứ, do ông L1 và bị cáo L làm bể khi xảy ra cự cãi và không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh có dính nhiều vết màu nâu đỏ; 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu xanh, góc trái phía trước mũ bị bể phần nhựa dài 6cm, rộng 4,5cm; 01 (một) áo sơ mi tay nam tay ngắn màu đen, phía sau lưng áo có ghi chữ BEAVER và nhân vật hoạt hình phi hành gia, phần tay áo và thân áo bên trái bị rách đường chỉ may dài 32cm; 01 (một) quần kaki màu xám, dài 93cm, mặt trước và mặt sau quần dính nhiều vết màu nâu đỏ, do bị cáo L mang và mặc khi thực hiện hành vi phạm tội và không còn giá trị sử dụng.

Đề nghị tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu sơn xám đen, biển số 71H1-015.50 thu của bị cáo L để đảm bảo thi hành án.

- Đối với việc bị hại ông H dùng gạch ống đánh gây thương tích cho bị cáo L là 03% nhưng bị cáo L có đơn yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện G, tỉnh Bến Tre đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng là đúng quy định của pháp luật.

Bị cáo L khai: Trong quá trình uống rượu tại nhà ông L1, giữa bị cáo và bị hại ông H có xảy ra cự cãi, bị cáo đẩy bị hại xuống mương, sau đó bị hại có lấy các viên gạch ống ném về phía bị cáo đang đứng nhưng không trúng. Bị cáo mới chạy xuống nhà bếp của ông L1 lấy 01 (một) con dao Thái Lan và 01 (một) con dao yếm cầm trên tay chạy lên sân nhà của ông L1 nhưng được anh K can ngăn; bị cáo bảo anh K đưa lại con dao bấm cho bị cáo để bị cáo về, anh K đưa con dao bấm cho bị cáo, bị cáo đưa lại con yếm cho anh K, anh K lấy con dao yếm ném bỏ về phía trước sân, bị cáo đi lại xe môtô định lấy xe đi về thì bị hại ông H cầm gạch ống đi lại đánh trúng vào hai tay và mũ bảo hiểm của bị cáo đang đội trên đầu làm cho bị cáo té xuống đất, rồi bị hại tiếp tục cầm gạch xông vào để đánh bị cáo. Lúc này, bị cáo dùng tay trái cấm dao bấm bị cáo đem theo người và tay phải cầm dao Thái Lan lấy từ sau bếp nhà ông L1 đâm nhiều nhát về phía người bị hại ông H trúng vào 02 chân của bị hại. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định; không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại ông H với số tiền là 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về, trở thành người có ích cho xã hội.

Bị hại ông H khai: Trong quá trình uống rượu tại nhà ông L1, giữa ông và bị cáo L có xảy ra cự cãi, bị cáo đẩy ông xuống mương, sau đó ông có lấy các viên gạch ống ném về phía bị cáo đang đứng. Bị cáo L chạy xuống nhà bếp của ông L1 lấy 01 (một) con dao Thái Lan và 01 (một) con dao yếm cầm trên tay chạy lên sân nhà của ông L1 rượt ông, ông mới lấy các viên gạch ống ném về phía bị cáo đang đứng, khi đó có người can ngăn nhưng ông không nhớ là ai. Sau đó, hai bên đánh nhau, bị cáo L đi lại chỗ ông đứng dùng dao tấn công ông, ông mới cầm gạch ống đi lại đánh trúng vào hai tay và mũ bảo hiểm của bị cáo đang đội trên đầu làm cho bị cáo té xuống đất, ông tiếp tục cầm gạch xông vào để đánh bị cáo. Lúc này, bị cáo L cầm dao đâm nhiều nhát về phía người ông trúng vào 02 chân của ông. Ông đồng ý với kết luận giám định; không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Về trách nhiệm hình sự: ông xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo L đã bồi thường cho ông số tiền 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng, ông yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Người làm chứng anh K khai: Trong quá trình uống rượu tại nhà ông L1, giữa bị cáo L và bị hại ông H có xảy ra cự cãi, lúc đầu bị cáo đẩy bị hại xuống mương, sau đó bị hại cầm gạch ống ném về phía bị cáo, bị cáo mới chạy xuống nhà bếp của ông L1 lấy 01 (một) con dao Thái Lan và 01 (một) con dao yếm cầm trên tay chạy lên sân nhà của ông L1 nhưng được anh can ngăn nên đến lấy xe ra về. Anh và ông L1 cùng ra mở cổng rào cho bị cáo L ra về. Còn sự việc bị cáo L dùng dao gây thương tích cho bị hại ông H, anh không chứng kiến. Anh không khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên sơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Hoàng L và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng:

Việc vắng mặt của những người làm chứng ông L1 và anh T2 tại phiên tòa, bị cáo L và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì, Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những người này. Xét thấy, trong quá trình điều tra, những người làm chứng ông L1 và anh T2 đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng thể hiện trong hồ sơ vụ án, ông L1 có đề nghị xét xử vắng mặt và việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này là phù hợp theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự

[3] Về tội danh: Bị cáo L có lời khai tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với một phần lời khai của bị hại tại phiên tòa và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh và các chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 27/02/2023, tại sân phía trước nhà của ông L1 ở ấp A, xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre, sau khi đã uống rượu thì giữa bị cáo L và bị hại ông H xảy ra mâu thuẫn cự cãi dẫn đến đánh nhau, bị cáo L đã sử dụng 01 (một) con dao bấm và 01 (một) con dao Thái Lan sắc, nhọn là hung khí nguy hiểm đâm gây thương tích cho bị hại ông H với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là 37%. Khi thực hiện hành vi trên, bị cáo L có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo L đã đủ yếu tố cấu thành “Tội cố ý gây thương tích” với tình tiết là “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre và lời buộc tội của Kiểm sát viên tại phiên toà đối với bị cáo L là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội:

Quyền được an toàn về sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của công dân, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Người nào xâm phạm đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật, đủ điều kiện theo quy định của pháp luật hình sự sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất. Hành vi của bị cáo L đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác, không những gây nguy hiểm cho xã hội, hoang mang trong nhân dân, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo L gây ra.

[5] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo L thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại với số tiền 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng cho bị hại ông H; tại phiên tòa, bị hại ông H xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự bị cáo L được hưởng.

Trong quá trình điều tra, bị hại ông H khai ông dùng gạch tấn công bị cáo L trước; còn tại phiên tòa, bị hại khai do bị cáo dùng dao tấn công ông trước nên ông mới dùng gạch tấn công bị cáo. Xét thấy, tại phiên tòa bị hại ông H có lúc khai không nhớ, lời khai không thống nhất với nhau; còn trong quá trình điều tra, bị hại khai rõ ràng và khẳng định tự nguyện khai báo, không bị ai ép buộc; bị hại cũng thừa nhận khi bị hại cầm gạch ống đánh trúng vào hai tay và mũ bảo hiểm của bị cáo đang đội trên đầu làm cho bị cáo té xuống đất, bị hại tiếp tục cầm gạch xông vào để đánh bị cáo. Do đó, có cơ sở xác định bị hại ông H cũng có một phần lỗi nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự bị cáo L được hưởng.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo L có 02 (hai) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời bị hại ông H cũng có một phần lỗi. Do đó, căn cứ vào Điều 54 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng.

Như vậy, căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo L gây ra, xét thấy việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

[6] Hình phạt bổ sung: Không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo L.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo L và bị hại ông H đã thỏa thuận với nhau về việc bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 116.200.000 (một trăm mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng, bị cáo đã bồi thường số tiền 16.200.000 (mười sáu triệu hai trăm nghìn) đồng và đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng. Tuy nhiên, đến nay bị cáo L chưa bồi thường cho bị hại ông H số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền này và bị cáo đồng ý bồi thường. Do đó, căn cứ vào các Điều 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự, có cơ sở buộc bị cáo L phải tiếp tục bồi thường cho bị hại ông H số tiền còn lại là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

Ông L1 không yêu cầu yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với số chén, dĩa và gạch ống bị vỡ trong quá trình bị cáo L và bị hại ông H gây gổ, đánh nhau nên được ghi nhận.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, gắn sim số 0398.179.713 thuộc sở hữu của anh K và không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Bến Tre đã giao trả cho anh K là phù hợp quy định pháp luật nên được ghi nhận.

Đối với 02 (hai) mẫu máu thu được tại hiện trường đã tiêu hủy sau khi giám định là phù hợp quy định pháp luật nên được ghi nhận.

Đối với 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm và 01 (một) con dao bấm (dao xếp) bằng kim loại dài 24cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10cm, bị cáo L dùng thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) con dao loại sắc thịt dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20,5cm, cán dẹp bằng gỗ, trên lưỡi dao có khắc chữ THUV; 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10,6cm, trên lưỡi dao có khắc chữ BRAND MADE IN THAI LAN; 01 (một) con dao loại dao yếm dài 37,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm, cán bằng gỗ hình tròn đường kính 3,3cm, đều thuộc sở hữu ông L1, ông L1 không yêu cầu nhận lại, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 06 (sáu) chiếc dép nam bằng nhựa màu đen; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, phía trước áo có ghi chữ ĐÃ CÓ BỒ Sam store, thuộc sở hữu của bị cáo L, bị hại ông H, anh T2 và anh K; bị cáo, bị hại, anh T2 và anh K không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 02 mảnh vỡ của dĩa bằng sứ; 02 (hai) mảnh vỡ của chén bằng sứ; 03 (ba) mảnh vỡ của viên gạch ống màu đỏ; 01 (một) mảnh vỡ của ly bằng sứ, do ông L1 và bị cáo L làm bể khi xảy ra cự cãi, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh có dính nhiều vết màu nâu đỏ; 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu xanh, góc trái phía trước mũ bị bể phần nhựa dài 6cm, rộng 4,5cm; 01 (một) áo sơ mi tay nam tay ngắn màu đen, phía sau lưng áo có ghi chữ BEAVER và nhân vật hoạt hình phi hành gia, phần tay áo và thân áo bên trái bị rách đường chỉ may dài 32cm; 01 (một) quần kaki màu xám, dài 93cm, mặt trước và mặt sau quần dính nhiều vết màu nâu đỏ, bị cáo L mang và mặc khi thực hiện hành vi phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu sơn xám đen, biển số 71H1-015.50 thu của bị cáo L tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[9] Đối với việc bị hại ông H dùng gạch ống đánh gây thương tích cho bị cáo L là 03% nhưng bị cáo có đơn yêu cầu không truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Giồng Trôm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông H số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng là đúng quy định của pháp luật.

[10] Về án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 (năm triệu) đồng, do bị cáo L phải nộp.

[11] Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo L về tội danh; điều luật áp dụng; nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo, trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lâm Hoàng L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

    Căn cứ vào điểm c khoản 3 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1) Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lâm Hoàng L 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/01/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586 và Điều 590 Bộ luật dân sự:

    Buộc bị cáo Lâm Hoàng L phải tiếp tục bồi thường cho bị hại ông Phan Thanh H số tiền là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu, tiêu hủy: 02 (hai) mảnh vỡ của dĩa bằng sứ; 02 (hai) mảnh vỡ của chén bằng sứ; 03 (ba) mảnh vỡ của viên gạch ống màu đỏ; 01 (một) mảnh vỡ của ly bằng sứ; 01 (một) con dao loại sắc thịt dài 34cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 20,5cm, cán dẹp bằng gỗ, trên lưỡi dao có khắc chữ THUV; 01 (một) con dao loại dao yếm dài 37,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 22cm, cán bằng gỗ hình tròn đường kính 3,3cm; 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10,6cm, trên lưỡi dao có khắc chữ BRAND MADE IN THAI LAN; 01 (một) con dao Thái Lan cán bằng nhựa màu vàng dài 21,3cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11,5cm; 01 (một) con dao bấm (dao xếp) bằng kim loại dài 24cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 10cm; 06 (sáu) chiếc dép nam bằng nhựa màu đen; 01 (một) áo thun tay ngắn màu đen, phía trước áo có ghi chữ ĐÃ CÓ BỒ Sam store; 01 (một) mũ bảo hiểm loại mũ nửa đầu màu xanh, góc trái phía trước mũ bị bể phần nhựa dài 6cm, rộng 4,5cm; 01 (một) áo sơ mi tay nam tay ngăn màu đen, phía sau lưng áo có ghi chữ BEAVER và nhân vật hoạt hình phi hành gia, phần tay áo và thân áo bên trái bị rách đường chỉ may dài 32cm; 01 (một) quần kaki màu xám, dài 93cm, mặt trước và mặt sau quần dính nhiều vết màu nâu đỏ; 01 (một) khẩu trang y tế màu trắng-xanh có dính nhiều vết màu nâu đỏ.

    Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, số loại Winner, màu sơn xám đen, biển số 71H1-015.50 thu của bị cáo Lâm Hoàng L để đảm bảo thi hành án.

    (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07/6/2024, hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre quản lý).

  4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Lâm Hoàng L nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 (năm triệu) đồng.

  5. Về quyền kháng cáo:

    Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

  6. Thi hành án:

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã P, huyện G;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Thị Phương Yến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lâm Hoàng L phạm tội "Cố ý gây thương tích".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger