|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày 17/5/2024 “V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài
Ông Lê Phi Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lam Thị Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 85/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Trần Thị H, sinh năm 1991; nơi ĐKHK: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: Xóm E, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
- Bị đơn: anh Phạm Văn D, sinh năm 1991; nơi cư trú cuối cùng: thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Hàn Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trần Thị H trình bày:
Chị và anh Phạm Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 08/12/2016, tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Khoảng cuối năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn về kinh tế và bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, chăm sóc, nuôi dạy con nên chúng tôi đã sống ly thân. Từ đầu năm 2019 đến nay, chị về nhà bố mẹ đẻ tại xóm E, xã L, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh ở. Trong thời gian sống ly thân, anh D vẫn không tu chí làm ăn; mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không hàn gắn được. Đến tháng 10/2022, chị được biết anh D đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Từ khi sang Hàn Quốc đến nay, anh D không liên lạc với chị nên chị không biết được địa chỉ chính xác hiện nay của anh D tại Hàn Quốc. Chị nhận thấy mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, hai bên không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ lẫn nhau, tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn với anh D.
Về con chung: chị và anh D có một con chung là Phạm Trần Hàn V, sinh ngày 17/6/2017, đang ở với chị. Chị yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại Công văn số: 714/QLXNC-P3 ngày 10/01/2024, của Cục Q - Bộ C cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Phạm Văn D như sau: trường hợp Phạm Văn D, sinh ngày 20/6/1991, CCCD số: [...], xuất cảnh ngày 17/10/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
* Ngày 26/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã nhận được Biên bản lấy lời khai của anh Phạm Văn T (là anh trai ruột của anh D) do Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh thực hiện ủy thác, thể hiện nội dung: anh Phạm Văn D đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ tháng 10/2022, tuy nhiên anh T chưa cung cấp được cho Tòa án biết địa chỉ chính xác hiện nay của anh D ở Hàn Quốc. Anh T đã thông báo cho anh D biết hiện nay Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đang thụ lý đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H và cam kết nhận tài liệu, giấy tờ của Tòa án thay cho anh D.
* Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã gửi Văn bản số: 36/2024/CV-TA ngày 13/3/2024, về việc yêu cầu ông Phạm Văn T1 (là bố đẻ của anh D) và anh Phạm Văn T (là anh trai ruột của anh D) cung cấp địa chỉ chính xác hiện nay của anh D ở Hàn Quốc cho Tòa án trước ngày 29/3/2024 nhưng đến nay Tòa án chưa nhận được văn bản trả lời của ông Phạm Văn T1 và anh Phạm Văn T.
* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị H như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H đối với anh Phạm Văn D: chị H được ly hôn với anh D; giao cho chị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Trần Hàn V, sinh ngày 17/6/2017, anh D không phải cấp dưỡng cho con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn anh Phạm Văn D hiện đang sinh sống, làm việc tại Hàn Quốc. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
Nguyên đơn chị Trần Thị H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Phạm Văn D vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho người thân trong gia đình, niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án xác minh, thu thập.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị H và anh Phạm Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08/12/2016, tại Ủy ban nhân dân xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Sau khi kết hôn, chị H và anh D chung sống tại thôn C, xã C, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, cuộc sống hôn nhân hạnh phúc đến năm 2017, vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn về kinh tế và do bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, chăm sóc, nuôi dạy con. Từ đầu năm 2019 đến nay, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Trong thời gian sống ly thân, anh D vẫn không tu chí làm ăn nên vợ chồng không khắc phục được mâu thuẫn, hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Từ tháng 10/2022, anh D đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, không thông tin, liên lạc gì với chị H. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: chị H và anh D đã không còn tồn tại thực tế đời sống chung vợ chồng; vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H đối với anh D.
[2.2] Về con chung: chị Trần Thị H và anh Phạm Văn D có một con chung là Phạm Trần Hàn V, sinh ngày 17/6/2017. Từ khi chị H và anh D sống ly thân, chị H là người nuôi dưỡng con chung, chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị H không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con. Căn cứ quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh D, do đó yêu cầu, quan điểm của chị H về việc được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là có căn cứ và không làm xáo trộn cuộc sống sinh hoạt của con chung nên chấp nhận. Anh Dũng có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Trần Thị H không yêu cầu anh Phạm Văn D cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Trần Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị H.
[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Trần Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn D.
[2] Về con chung: giao cho chị Trần Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Trần Hàn V, sinh ngày 17/6/2017 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Văn D không phải cấp dưỡng cho con.
Sau khi ly hôn, anh Phạm Văn D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phạm Văn D lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Trần Thị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Trần Thị H không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Phạm Văn D có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Trần Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[4] Về án phí: chị Trần Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005730 ngày 27/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Trần Thị H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Phạm Văn D biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Hằng |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị H - Pham Văn D
