TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST Ngày 16-8-2024. (Về việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con) | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đà Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan
Bà Phạm Thị Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thái Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 93/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 25/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thủy T, sinh năm 1996; (Có mặt)
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ I, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
Nơi làm việc: Chi nhánh phía Nam Công ty cổ phần Đ1 (Số I Đ, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh)
- Bị đơn: Anh Đinh Xuân H, sinh năm 1989; (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Tổ I, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2024 và các tài liệu, chứng cứ kèm theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Thủy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 21/3/2014 trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống hạnh phúc được thời gian ngắn đầu hôn nhân, sau đó thường xuyên mâu thuẫn. Thời điểm phát sinh mâu thuẫn là khi chị T phát hiện anh H sử dụng ma túy năm 2015. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh Đinh Xuân H nghiện hút, không tu chí làm ăn, bạo lực, đánh đập vợ không thương tiếc. Chị sống ly thân không dám về gia đình anh H từ năm 2015 cho đến nay do anh H cứ nhìn thấy chị là có hành vi bạo lực. Nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm, không đạt được mục đích trong hôn nhân, tình trạng hôn nhân trầm trọng, không tồn tại đời sống chung, nên chị T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đinh Xuân H.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H có 01 (một) con chung là Đinh Xuân S, sinh ngày 05/12/2014. Chị Tiên đề n được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung và chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con cho đến khi con 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật. Do anh H sử dụng ma túy và thường xuyên có hành vi bạo lực, công việc không ổn định nên chị thấy không đảm bảo việc nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con. Tuy nhiên, chị tôn trọng nguyện vọng của con về việc lựa chọn người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị không có tài sản chung, chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng chị không vay nợ chung của tổ chức, cá nhân nào do vậy không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị T tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Bị đơn anh Đinh Xuân H:
Anh Đinh Xuân H đã được Tòa án triệu tập, giao văn bản tố tụng hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Do đó, Tòa án không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được. Tòa án đã tiến hành giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa để anh H biết nhưng anh vẫn vắng mặt tại phiên tòa tất cả các lần mà không có lý do.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi anh Đinh Xuân H cư trú. Kết quả xác minh cho thấy: Anh Đinh Xuân H có đăng ký thường trú tại tổ I, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình và có mặt thường xuyên tại nhà địa chỉ số C, ngõ A đường L, tổ I, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H khi mới kết hôn thời kỳ chị T mang thai vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, anh H hay đánh vợ. Do chung sống không hạnh phúc nên ly thân được khoảng 9 năm cho đến nay, không thấy chị T chung sống cùng chồng. Chị T có đăng ký hộ khẩu thường trú nhưng không cư trú ở Hòa Bình, thực tế không thấy chị T và anh H chung sống với nhau. Tổ dân phố cho biết trước đây anh H từng là đối tượng đi cai nghiện ma túy. Còn hiện nay không nắm được anh còn sử dụng ma túy hay không. Qua nắm bắt thông tin từ gia đình thì anh H là người hay bạo lực gia đình. Công việc hiện tại anh H đi phụ xe nhưng không ổn định.
Tòa án đã tiến hành xác minh người thân của anh Đinh Xuân H là ông Đinh Xuân Đ bố đẻ của anh H. Ông Đ cho biết vợ chồng anh H chị T sau khi kết hôn chung sống không hạnh phúc. Nguyên nhân do khác biệt về tính cách. Mâu thuẫn trầm trọng từ sau khi kết hôn và đi làm ăn ở bên Lào khi đó con mới được mấy tháng tuổi. Sau đó chị T cùng con về quê tại Huế sinh sống và ly thân cho đến nay. Khi con là Đinh Xuân S được 18 tháng tuổi thì ông bà nội đón cháu S về Hòa Bình trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến nay. Anh H và chị T đã ly thân được 9 năm không quan tâm đến nhau. Trong quá trình ly thân chị T vẫn gửi tiền cho ông bà nuôi cháu hàng tháng. Ông Đ cũng xác nhận anh H là lao động tự do, công việc không ổn định lúc đi phụ xe, lúc làm ngoài. Quá trình giải quyết vụ án cán bộ Tòa án có đến nhà giao giấy tờ nhưng anh H không muốn đến Tòa án, ông cũng không khuyên bảo được. Cháu S muốn ở với ai thì để cháu được ở với người đó.
Tòa án tiến hành lấy lời khai của cháu Đinh Xuân S cháu có nguyện vọng được ở với mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dânthành phố H phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau:
- Về tố tụng : Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 72 của BLTTDS. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thủy T; xử cho chị Nguyễn Thị Thủy T được ly hôn anh Đinh Xuân H.
Về con chung: Giao con chung là Đinh Xuân S, sinh ngày 05/12/2014 cho chị Nguyễn Thị Thủy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Nguyễn Thị Thủy T chưa yêu cầu anh Đinh Xuân H cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn cho đến khi con 18 tuổi hoặc có quyết định khác theo quy định của pháp luật là hoàn toàn phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T khai không có, không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc chị Nguyễn Thị Thủy T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố H, tỉnh Hòa Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn - anh Đinh Xuân H đã được triệu tập hợp lệ để ghi lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập, thông báo mà không có lý do. Tòa án đã giao văn bản cho anh H nhiều lần có sự chứng kiến của tổ trưởng tổ dân phố, cảnh sát khu vực, nhưng bị anh từ chối nhận văn bản, đã Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, đã xác minh tại nơi cư trú của anh Đinh Xuân H, tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh H vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự
[2] Về nội dung vụ án: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H khi kết hôn là tự nguyện, không vi phạm quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế vào ngày 21/3/2014 trên cơ sở tự nguyện. Do vậy hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống có hạnh phúc nhưng từ khi chị T có thai cho đến khi con được 18 tháng tuổi thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh H và chị T thường xuyên bất đồng quan điểm, anh H hay đánh vợ, vợ chồng không duy trì cuộc sống chung từ 09 năm nay. Việc ly thân kéo dài nhiều năm cho thấy vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân cho đến nay được khoảng 09 năm, mỗi người một nơi, không còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Giai đoạn chuẩn bị xét xử tòa án đã nhiều lần đến nhà giao văn bản và gặp anh Đinh Xuân H về việc chị Tiên đề n ly hôn, yêu cầu anh H đến Tòa án để giải quyết ly hôn nhưng anh H từ chối nhận văn bản với lý do không đồng ý ly hôn, không hợp tác, do vậy chị T phải đề nghị giải quyết ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật.
Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không còn tồn tại nhiều năm cho đến nay. Mặt khác, anh H biết việc chị T nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do, không đến Tòa án trong suốt quá trình giải quyết vụ án để thể hiện ý kiến của mình, điều này chứng tỏ anh H cũng không mong muốn được hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn với anh Đinh Xuân H của chị Nguyễn Thị Thủy T là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thủy T và anh Đinh Xuân H có 01 (một) con chung là Đinh Xuân S, sinh ngày 05/12/2014. Chị Nguyễn Thị Thủy T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung và chưa yêu cầu anh Đinh Xuân H cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét thấy cháu Đinh Xuân S đã ở với ông bà từ khi 18 tháng tuổi cho đến nay trong môi trường thiếu sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ. Cháu có nguyện vọng được ở với mẹ. Chị T có công việc ổn định, lương đảm bảo từ khoảng 10.000.000 (mười triệu) đồng đến 12.000.000 (mười hai triệu) đồng (theo xác nhận thu nhập của Công ty nơi chị T làm việc), ngoài ra chị có làm thêm thu nhập làm thêm khoảng 5.000.000 (năm triệu) đồng/tháng và có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Cháu Đinh Xuân S trên 7 tuổi cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Nhằm đảm bảo quyền lợi cũng như ổn định cuộc sống của con, căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cho chị Nguyễn Thị Thủy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con là Đinh Xuân S đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của Tòa án là đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các đương sự.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Thủy T có việc làm và thu nhập ổn định đảm bảo nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con và chưa yêu cầu cấp dưỡng. Nên Hội đồng xét xử tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho Đinh Xuân H.
[4] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thủy T khai không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thủy T khai không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 244; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm đ khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thủy T về việc xin ly hôn với anh Đinh Xuân H.
Chị Nguyễn Thị Thủy T được ly hôn với anh Đinh Xuân H.
2. Về con chung:
Giao con là Đinh Xuân S, sinh ngày 15/12/2014 cho chị Nguyễn Thị Thủy T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác theo quy định của pháp luật.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị Thủy T chưa yêu cầu anh Đinh Xuân H cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Đinh Xuân H.
Anh Đinh Xuân H được quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
3. Án phí: Chị Nguyễn Thị Thủy T phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000337 ngày 15/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình chuyển thành án phí cho chị Nguyễn Thị Thủy T.
4. Về quyền kháng cáo:
Chị Nguyễn Thị Thủy T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Đinh Xuân H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Đà Giang |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tiên nuôi con
