Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 8 - 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàn.

Bà Lê Thị Thương

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 137/2024/TLST- HNGĐ, ngày 16 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Cụm A, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; có mặt

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; Địa chỉ: Cụm A, xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời trình bày của nguyên đơn là anh Nguyễn Văn H1 thì: Anh và chị Nguyễn Thị T kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ, Thành phố Hà Nội vào ngày 14/12/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống chung căng thẳng, ngột ngạt. Sau đó, chị T về nhà mẹ đẻ ở. Vợ chồng sống ly thân từ đó, không còn quan tâm đến nhau. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có khả năng tiếp tục nên quyết định xin ly hôn.

Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị có hai con chung là cháu Nguyễn Quỳnh A sinh ngày 25/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 16/8/2011. Từ khi vợ chồng sống ly thân, chị T đi làm ăn xa để các con cho anh nuôi. Vì vậy, khi ly hôn anh đề nghị Tòa án chấp nhận cho anh được tiếp tục nuôi cả hai con và không yêu cầu chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng với anh.

Về tài sản chung: Anh H1 không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn là chị Nguyễn Thị T thừa nhận thời gian kết hôn và chung sống đúng như anh H1 đã trình bày. Chị T cũng thừa nhận nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nên vợ chồng thường xảy ra xích mích cãi cọ. Do cuộc sống chung căng thẳng kéo dài nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở cụm D để sống. Vợ chồng sống ly thân từ đó. Chị thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau nên anh H1 xin ly hôn, chị đồng ý.

Về con chung, do hiện nay chị đi làm xa không thường xuyên ở nhà nên chị đồng ý để cho anh H1 được quyền nuôi cả hai con chung của anh chị là cháu Nguyễn Quỳnh A và cháu Nguyễn Thị Anh T1. Do anh H1 không cần chị đóng góp nuôi con nên chị sẽ tự chu cấp cho con theo khả năng của chị.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Thành phố Hà Nội tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh H1 và chị T ly hôn. Về con chung, chấp nhận yêu cầu của anh H1 giao hai cháu Nguyễn Quỳnh A sinh ngày 25/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 16/8/2011 cho anh H1 nuôi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị T cho đến khi có yêu cầu. Về tài sản chung: Anh H1 và chị T đều không yêu cầu nên không xem xét. Anh H1 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn H1 khởi kiện ly hôn và đề nghị giải quyết về quyền nuôi con chung khi ly hôn với chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu thường trú tại huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Tòa án huyện Đ thụ lý vụ án và xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn”, là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt, vụ việc không hòa giải được nên Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà án xét xử vắng mặt chị T theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung:

[2.1] Quan hệ hôn nhân của anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 14/12/2007 tại cơ quan có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống, vợ chồng anh chị phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay, không quan tâm đến nhau. Anh H1 xin ly hôn chị T đồng ý. Do đó, Hội đồng xét xử đánh giá mâu thuẫn giữa anh H1 và chị T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục, yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn H1 là có căn cứ nên chấp nhận xử cho anh H1 và chị T được ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị T có hai con chung là Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 25/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 16/8/2011. Từ khi anh H1 và chị T sống ly thân cả hai con vẫn ở cùng với anh H1. Khi ly hôn, anh H1 có mong muốn được tiếp tục nuôi hai con. Chị T thừa nhận hiện tại chị không có điều kiện trực tiếp nuôi con và đồng ý để anh H1 được nuôi cả hai con. Xét thấy, ý kiến của anh H1 và chị T cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Quỳnh A và Anh T1. Vì vậy, Hội đồng xét căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình quyết định giao các cháu Nguyễn Quỳnh A và Nguyễn Thị Anh T1 cho anh H1 nuôi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh H1 không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị T cho đến khi có yêu cầu.

[2.3] Về tài sản, nợ chung, công sức của anh, chị đối với hai bên gia đình: Cả anh H1 và chị T đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Anh Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H1.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H1 và chị Nguyễn Thị T.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Quỳnh A, sinh ngày 25/10/2008 và cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh ngày 16/8/2011 cho anh Nguyễn Văn H1 nuôi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với chị Nguyễn Thị T cho đến khi có yêu cầu mới hoặc khi có quyết định khác của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

    Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

  3. Về tài sản, nợ chung, công sức: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn H1 phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, Thành phố Hà Nội theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010284 ngày 16 tháng 7 năm 2024.
  5. Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Văn H1 có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đ, TP. Hà Nội;
  • - Chi cục THADS huyện Đ, TP. Hà Nội;
  • - UBND xã Tân Hội, huyện Đ, TP. Hà Nội (GCNKH số 137 quyển số 01 ngày 14/12/2007);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu KK của NĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger