|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 16-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Chuyền
Ông Đào Đình Phúc
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lương, bà Phạm Thị X – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Thành T, sinh ngày: 25 tháng 7 năm 1998 tại: Hải Dương
Nơi cư trú: Thôn An Khoái, xã Tứ Cường, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con bà: Vũ Thị M, sinh năm: 1959;
Vợ: Lương Thị D, sinh năm 1992; Có 02 con, lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 22/01/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.
- Bị hại: Vũ Đức N, sinh năm: 1970
Nơi cư trú: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Vũ Thị M, sinh năm: 1959
Nơi cư trú: thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt
2. Vũ Thanh S, sinh năm: 1998
Nơi cư trú: thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt
- Người làm chứng:
- Vũ Thị H. Có mặt
- Nguyễn Văn V. Có mặt
- Nguyễn Thị Ánh N1. Có mặt
- Phạm Thị T1. Vắng mặt
- Vũ Thị Y. Vắng mặt
- Trần Thị Nguyệt H1. Vắng mặt
- Vũ Văn K. Vắng mặt
- Nguyễn Văn Đ. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 05/11/2023, anh Vũ Thanh S đi xe mô tô đến quán Internet “Thanh Thư” của vợ chồng anh Đỗ Văn K1 và chị Vũ Thị Y tại thôn A, xã T, huyện T chơi game. Trong lúc chơi game, anh S bị thua nên dùng tay đập nhiều nhát xuống bàn phím làm bung một số nút và làm đổ cốc nước vào một bàn phím khác gây hư hỏng. Khi đó chị Trần Thị Nguyệt H1 là nhân viên của quán nói “Chơi được thì chơi, không chơi được thì nghỉ, đừng có phá”. S nói “bố mày thích đập thì đập, ngon thì gọi thằng K1 về”. Thấy vậy, chị H1 điện thoại cho anh K1 đang lao động tại Đài Loan, kể lại sự việc, sau đó anh S và anh K1 chửi nhau qua điện thoại, S đuổi khách đang chơi game ra ngoài rồi bỏ về.
Khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày, anh K1 gọi điện cho Vũ Thành T là bạn xã hội và nói với T “thằng S nó phá quán của anh, em lên nói chuyện với nó cho anh”. T nói “vậy đợi tý em lên”. Lúc này T đang uống bia cùng bạn là anh Vũ Văn K nên nhờ anh K đi xe mô tô chở T đến quán Internet tìm gặp anh S nhưng không gặp. T nhờ chị H1 gọi điện thoại cho anh S để T nói chuyện. T nói “mày ở đâu, sao mày lại phá quán nhà anh K”. S nói “nó nợ tao”. T hỏi “mày đang ở đâu, tao qua nói chuyện”. S trả lời “đang ở nhà”. T tiếp tục nhờ anh K chở T về nhà. T vào bếp lấy 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 45cm, lưỡi dao màu trắng rộng 03 cm, được bọc ngoài bằng bao da ở gầm tủ bếp để lên bàn để chân xe mô tô Vision màu đỏ, biển kiểm soát 34F1-257.24 đi đến nhà anh S. Anh K đi theo T để can ngăn nhưng không được, khi thấy T dừng trước cổng nhà anh S, anh K đi về.
Khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, T đến trước cổng nhà anh S, thấy cổng nhà anh S khoá, T dựng xe ở rìa đường đối diện cổng nhà anh S, rút con dao ra khỏi bao da, vứt bao da ở rìa đường rồi cầm dao đi bộ sang cổng nhà anh S và gọi anh S ra nói chuyện. Khi anh S ra sân nói chuyện, T đứng bên ngoài cổng chửi bới và yêu cầu anh S không được sang thôn A để gây sự, đồng thời tay phải cầm dao, tay trái túm cổ áo anh S ghì vào cổng. Khoảng 21 giờ 40 phút cùng ngày, ông Vũ Đức N là bố đẻ của anh S đi bộ từ nhà hàng xóm về, thấy T to tiếng nên đến gần hỏi và dùng tay đẩy vai T, T vung dao về phía ông N, ông N giơ tay trái ra đỡ thì túm được lưỡi dao, T rút dao ra làm ông N bị thương 04 ngón tay lòng bàn tay trái. T cầm dao, lấy xe máy đi về được 2-3 mét thì bị đổ xe. T dựng xe định tiếp tục đi về thì bị ông N chạy theo giữ đuôi xe. Sau đó, T bỏ xe đổ ra đường, ông N lao vào đẩy T ngã ra đường, sau đó ôm đè lên người Trung, 2 bên vật lộn trên đường làm T bị chấn thương vùng ngực. T đẩy được ông N ra, đứng dậy quay lại tay phải cầm dao chém về phía ông N (lúc này ông N đang đứng ở phía đối diện T) trúng mặt trong cẳng tay trái ông N làm bị thương. Ông N được người nhà đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh H từ tối ngày 05/11/2023 đến ngày 17/11/2023, sau đó tiếp tục điều trị tại nhà đến ngày 05/12/2023.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 424/KLTTCT ngày 15/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận đối với ông Vũ Đức N: Vết thương cẳng tay trái gây đứt động mạch quay, đứt hoàn toàn thần kinh giữa, thần kinh trụ, đứt hoàn toàn khối cơ gấp nông các ngón, cơ gấp cổ tay quay trụ, gan tay dài, cơ cánh tay quay, đứt bán phần cơ nhị đầu tay trái, được phẫu thuật xử lý. Hiện liệt thần kinh giữa, thần kinh trụ mức độ nặng, để lại sẹo vết thương, mổ mặt trước trong 1/3 trên cẳng tay trái kích thước trung bình. Vết thương bàn tay trái gây đứt gân gấp vùng 1 ngón II, III, V, đứt gân gấp vùng 2 ngón IV, vạt da gan ngón II, III lóc đứt gần rời lộ gân, đã xử lý. Hiện ổn định, để lại 04 sẹo vết thương phần mềm đốt 2, 3 ngón II, III, V, đốt 2 ngón IV bàn tay trái kích thước nhỏ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Vũ Đức N tại thời điểm giám định là 44%. Các tổn thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra, ông Vũ Đức N bị người khác dùng dao như Công an huyện T mô tả chém gây ra là phù hợp.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 423/KLTTCT ngày 25/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H kết luận thương tích đối với Vũ Thành T: Chấn thương ngực kín gây gãy cung trước xương sườn số 3 bên trái. Hiện toàn thân không phát hiện dấu vết tổn thương, di chứng. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Vũ Thành T tại thời điểm giám định là 02%.
Kết luận giám định số 9223/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của V1 - Bộ C kết luận: Trên lưỡi con dao gửi giám định có bám dính máu người và là máu của Vũ Đức N.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 con dao bằng kim loại dài 45cm, lưỡi dao màu trắng rộng 03 cm, được bọc ngoài bằng bao da; 01 xe mô tô Vision màu đỏ, biển kiểm soát 34F1-257.24.
Trách nhiệm dân sự: Ông N yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí cho việc cấp cứu, điều trị, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất; phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc ông N trong thời gian điều trị là 72.476.000đ. Bị cáo và gia đình đã bồi thường cho ông N 10.000.000đ. Ông N yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường 62.476.000đ.
Bị cáo T chụp X-quang hết 25.0000đ và gia đình mua thuốc điều trị là 6.500.000đ, tổng số tiền là hết 6.750.000đ. Bị cáo yêu cầu ông N phải bồi thường cho bị cáo và gia đình bị cáo.
Bà Vũ Thị M là mẹ của bị cáo T trình bày chi phí mua thuốc điều trị cho bị cáo T số tiền là 6.500.000đ, nhưng bà không yêu cầu ông N bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKS, ngày 31/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo bị về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 05/11/2023, bị cáo có xô xát với ông N, bản thân có sử dụng dao có đặc điểm 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 45cm, lưỡi dao màu trắng rộng 03 cm còn ông N không có vũ khí nào. Khi xảy ra xô xát thì chỉ có bị cáo và ông N. Bị cáo thừa nhận các thương tích của ông N là do bị cáo gây ra, nhưng bị cáo không chém ông N mà do ông N giằng dao của bị cáo và ngã đè lên người bị cáo dẫn đến thương tích ở cẳng tay. Bị cáo khai khi ông N giằng dao của bị cáo thì bị cáo rút dao lại, khi xô xát với ông N, bị cáo có đưa dao về phía trước.
Bị hại N khai: khoảng 21 giờ 40 phút ngày 05/11/2023, khi đang bên nhà hàng xóm thì nghe thấy tiếng chửi nhau ầm ĩ ở trước cổng nhà, ông đứng dậy đi về, khi đi đến trước nhà thì thấy T đứng phía ngoài cửa cổng, phía bên trong là Vũ Thanh S con trai ông đang lời qua tiếng lại với nhau. Ông hỏi T “mày có việc gì đấy", T quay trái về phía ông và đáp “không liên quan gì đến ông, ông ra ngoài kia", đồng thời dùng tay trái đẩy vào ngực của ông khiến ông bị đẩy lùi về phía sau khoảng hơn một bước chân, rồi T đưa tay phải từ dưới lên cua ngang từ phải qua trái tầm ngang ngực hướng về phía ông thì ông nhìn thấy trên tay phải T có cầm con dao, theo phản xạ ông đưa tay trái ra đỡ và nắm giữ được lưỡi dao của T và định tước lấy con dao T đang sử dụng thì T xoay dao trong lòng bàn tay trái của ông và rút dao về phía T làm ông bị thương trong lòng bàn tay trái. Ông nói anh S bật điện lên, lúc này T điều khiển xe máy bỏ chạy được vài mét thì bị ngã, T dựng xe lên tiếp tục bỏ chạy thì ông chạy lên kéo đuôi xe T lại, T đi được thêm vài mét thì thả xe ra đổ về phía trước. T quay người lại tay phải vẫn cầm dao, trong tư thế đối diện ông lao vào gần và dùng hai tay đẩy vào ngực T khiến T bị ngã ngửa ra nền đường và tuột con dao ra khỏi tay, ông nhảy vào ôm đè lên T ý định giữ T lại, hai bên vật lộn, T đẩy ông ra và đứng dậy cầm lại được con dao, lúc này ông cũng đứng được dậy, trong tư thế đối diện với T thì T cầm dao bên tay phải, vung dao từ trên xuống dưới hướng chếch chéo về mé bên tay trái trúng vào cẳng tay trái ông, ông phát hiện bị vết rách dài sâu chéo ở cẳng tay trái và dùng tay phải giữ đỡ tay trái đồng thời hô hào “chúng mày cầm dây ra đây garô tay tao", khi đó thì T cũng dựng xe lên điều khiển xe ra về, còn ông thì được đưa đi cấp cứu.
Tại phiên tòa, anh Vũ Thanh S không còn nhớ diễn biến sự việc, Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của anh S tại giai đoạn điều tra. Tại bản tự khai lúc 23 giờ 30 phút ngày 05/11/2023, anh Vũ Thanh S khai: “bố tôi đi chơi từ nhà hàng xóm về, hỏi T “có chuyện gì đấy”, anh T có nói “ông đi ra” và dùng tay đẩy ngã bố tôi vào xe máy của anh T, bố tôi ngã ra một đoạn thì anh T có cầm dao đã chuẩn bị sẵn chém một nhát vào tay trái của bố tôi. Khi tôi chạy ra thì thấy bố tôi bị chém ở tay và chảy nhiều máu”. Anh S khẳng định các lời khai tại giai đoạn điều tra là hoàn toàn đúng sự thật, anh khai báo hoàn toàn tự nguyện. Các bản tường trình và biên bản lấy lời khai khác, anh S đều khai có thấy bị cáo T và ông N có giằng co nhau, cả hai ngã ra đường, khi đứng dậy thì T cầm dao vung lên về phía ông N.
Chị Nguyễn Thị Ánh N1 khai: chị có nhìn thấy T và ông N xảy ra xô xát và có nhìn thấy T vung dao lên theo hướng từ trên xuống, từ phải qua trái về phía ông N trúng vào tay trái ông N.
Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đồng ý bồi thường cho ông N số tiền là 62.476.000đ, ông N đồng ý bồi thường cho bị cáo số tiền 250.000đ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: tuyên bố bị cáo Vũ T2 trung phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 6 năm 9 tháng đến 7 năm 3 tháng tù.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao bằng kim loại dài 45cm, lưỡi dao màu trắng rộng 03 cm và bao da màu nâu.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của các bên.
Về án phí: buộc bị cáo T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, buộc ông N và bị cáo T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo nhận thức hành vi cầm dao sang nhà ông N là vi phạm nên xin giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất.
Bị hại ông Vũ Đức N không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo T đề nghị triệu tập người làm chứng Vũ Văn K. Hội đồng xét xử nhận thấy, người làm chứng Vũ Văn K đã được triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên tòa, anh K đã có lời khai trong hồ sơ, anh K vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử không chấp nhận lời đề nghị của bị cáo mà tiếp tục xét xử vụ án.
Về lý lịch của bị cáo: Quá trình giải quyết vụ án, mẹ bị cáo là bà Vũ Thị M trình bày bị cáo là con ông Nguyễn Văn H2 và cung cấp Huy chương kháng chiến hạng Nhất của ông Nguyễn Văn H2 nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh ông Nguyễn Văn H2 là bố đẻ của bị cáo Vũ Thành T. Tại lý lịch bị can lập ngày 22/01/2024 và D1 bản, chỉ bản thể hiện bị cáo có cha tên Nguyễn Xuân H3 (đã chết). Tuy nhiên, tại biên bản xác minh với Ủy ban nhân dân xã T ngày 15/4/2024 và Biên bản làm việc với Công an xã T ngày 15/4/2024 đều xác định bị cáo Vũ Thành T không có thông tin về bố đẻ, do đó, Công an xã T đã đính chính thông tin về bố đẻ bị cáo Vũ Thành T trên Dữ liệu quốc gia về dân cư. Như vậy, không có căn cứ xác định bị cáo T có cha đẻ là ông Nguyễn Xuân H3 hay Nguyễn Văn H2.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 05/11/2023, bị cáo có xô xát với ông N, bản thân có sử dụng dao có đặc điểm 01 con dao còn ông N không có vũ khí nào. Khi xảy ra xô xát thì chỉ có bị cáo và ông N. Bị cáo thừa nhận các thương tích của ông N là do bị cáo gây ra, nhưng bị cáo không chém ông N mà do ông N giằng dao của bị cáo và do ông N ngã đè lên người bị cáo dẫn đến thương tích ở cẳng tay. Tuy nhiên, bị cáo có thừa nhận khi ông N giằng dao của bị cáo thì bị cáo rút dao lại, khi xô xát với ông N, bị cáo có đưa dao về phía trước.
Bị hại N khai: trong lúc xô xát, T đưa tay phải từ dưới lên cua ngang từ phải qua trái tầm ngang ngực hướng về phía ông, theo phản xạ ông đưa tay trái ra đỡ và nắm giữ được lưỡi dao của T và định tước lấy con dao T đang sử dụng thì T xoay dao trong lòng bàn tay trái của ông và rút dao về phía T làm ông bị thương trong lòng bàn tay trái. Quá trình xô xát, hai bên ngã xuống, ông đè lên bị cáo T, hai bên vật lộn, T đẩy ông ra và đứng dậy cầm lại được con dao, lúc này ông cũng đứng được dậy, hai bên đứng tư thế đối diện thì T cầm dao bên tay phải, vung dao từ trên xuống dưới hướng chếch chéo về mé bên tay trái trúng cẳng tay trái của ông.
Người làm chứng Nguyễn Thị Ánh N1 khai: có nhìn thấy T và ông N xô xát, T vung dao lên theo hướng từ trên xuống, từ phải qua trái về phía ông N trúng vào tay trái ông N.
Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện:
Tại biên bản ghi lời khai ngày 18/01/2024, bị cáo T khai: “tôi buông S ra và định cầm định cầm dao ra về thì giữa tôi và ông N xảy ra sự giằng co, ông N có hành vi kéo giữ tôi lại, tôi thì tay phải vẫn cầm dao ngồi lên xe mô tô định nổ máy về. Khi ông N giữ và đẩy tôi thì tôi có hất tay, vung dao về phía ông N”.
Tại phiên tòa, bị cáo khẳng định lời khai ngày 18/01/2024 là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc.
Vật chứng thu giữ được: 01 con dao bằng kim loại màu trắng, mũi dao vát nhọn, dài khoảng 45cm, lưỡi dao màu trắng rộng khoảng 3,5 cm.
Tại bệnh án ngoại chấn thương chỉnh hình, số vào viện 48671, ngày 17/11/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh H tổng kết bệnh án đối với ông Vũ Đức N: vết thương cẳng trước 1/3 trên cẳng tay trái, kích thước 10x20cm, sắc gọn, lộ gân cơ đứt, chảy nhiều máu. Vết thương mặt gan ngón II, III, IV, V, sắc gọn thẫm máu.
Bản ảnh chụp lại vết thương của ông N phù hợp với mô tả vết thương Tại bệnh án ngoại chấn thương chỉnh hình, số vào viện D2, ngày 17/11/2023, Phiếu phẫu thuật/thủ thuật mã số 14/BV-01, ngày 06/11/2023 của Bệnh viện đa khoa tỉnh H, phù hợp với phù hợp với các vết thương được kết luận trong Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 424/KLTTCT, ngày 15/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh H. Đồng thời, tại bản kết luận giám định kết luận cơ chế hình thành các vết thương trên có đặc điểm do vật sắc gây ra, ông N bị người khác dùng dao như Công an huyện T mô tả chém gây ra là phù hợp.
Xét lời khai của bị cáo, bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phù hợp với bản ảnh chụp vết thương, vật chứng thu giữ được, bệnh án của ông N và các vết thương, cơ chế hình thành vết thương kết luận tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 424/KLTTCT, như vậy, có đủ căn cứ kết luận khoảng 21 giờ 40 phút, ngày 05/11/2023, tại thôn A, xã T, huyện T, bị cáo T đã có hành vi sử dụng dao chém ông N, gây thương tích cho ông N tại cẳng trước 1/3 trên cẳng tay trái và vết thương mặt gan ngón II, III, IV, V bàn tay trái.
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 424/KLTTCT, ngày 15/01/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh H xác định tổn thương cơ thể của ông N tại thời điểm giám định là 44%.
Bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, cấm mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật, giữa bị cáo và ông N không có mâu thuẫn gì nhưng chỉ vì xô xát nhỏ, bị cáo vẫn cố ý dùng dao sắc là hung khí nguy hiểm chém bị hại, thể hiện tính chất côn đồ, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự, trị an xã hội.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:
Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường một phần cho bị hại nên áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo có nhận thức được việc sử dụng dao, xô xát với ông N là vi phạm nên đã đến Ủy ban nhân dân xã T trình báo về sự việc, mặc dù bị cáo không trình báo về việc dùng dao chém gây ra thương tích cho ông N nhưng có trình báo về hành vi sai phạm cũng góp phần tuyên truyền khuyến khích người phạm tội ra đầu thú nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “đầu thú” quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo không thành khẩn khai báo về hành vi của mình nên Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, Hội đồng xét xử căn cứ và tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, căn cứ và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo mức hình phạt tù tương xứng nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo từ 06 năm 09 tháng tù đến 07 năm 03 tháng tù là có phần nghiêm khắc, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
[4]. Về vật chứng: xe mô tô Vision màu đỏ, biển kiểm soát 34F1-257.24 do T sử dụng tối ngày 05/11/2023, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của chị Vũ Thị H, chị H không biết T sử dụng làm phương tiện đi phạm tội nên Cơ quan điều tra trả lại xe mô tô cho chị H là đúng quy định.
Đối với 01 con dao bằng kim loại dài khoảng 45cm, lưỡi dao màu trắng rộng 03 cm, được bọc ngoài bằng bao da bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, đây là con dao do bà M mua nhưng bà M không có yêu cầu nhận lại, do đó, Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy.
[5] Trách nhiệm dân sự: Ông N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 62.476.228đ, bị cáo T đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
Bị cáo T chi phí chụp X-quang là 250.000đ, yêu cầu ông N bồi thường, ông N đồng ý bồi thường nên ghi nhận.
Bà M trình bày chi phí mua thuốc chữa trị cho bị cáo T là 6.500.000đ, nhưng bà không yêu cầu ông N bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6]. Các vấn đề khác:
Ông N có hành vi xô xát với bị cáo T, gây tổn hại 2% sức khoẻ cho T, Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông N là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với anh Đỗ Văn K1 có gọi điện thoại nhờ T đến nói chuyện với anh S nhưng anh K1 không biết T gây thương tích với ông N nên không có căn cứ xử lý đối với anh K1.
Đối với anh Vũ Văn K được T nhờ chở về nhà, sau đó đi theo can ngăn T nhưng không được, do đó không có căn cứ xem xét xử lý đối với anh K.
[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án và phải bồi thường nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Ông Vũ Đức N phải bồi thường nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự;
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; 332; 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Thành T phạm tội “Cố ý gây thương tích".
- Xử phạt bị cáo Vũ Thành T 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/01/2024.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao bằng kim loại, màu trắng sáng dài 45cm, bản rộng 03 cm, đầu lưỡi dao vát nhọn, có đai cố định phần cuối dao và bao da màu nâu.
(Tình trạng vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, ngày 06/6/2024).
- Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Vũ Thành T bồi thường cho ông Vũ Đức N số tiền là 62.476.228đ (sáu mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn hai trăm hai mươi tám đồng).
Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Đức N bồi thường cho bị cáo Vũ Thành T số tiền là 250.000đ (hai trăm năm mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành chưa thanh toán số tiền trên thì còn phải trả khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
- Về án phí: bị cáo Vũ Thành T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 2.623.811đ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Vũ Đức N phải nộp 300.000 án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Lý |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 06 năm 06 tháng tù.
