|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HNGĐ - ST Ngày: 16/5/2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Đình Công
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thùy Phương
Bà Nguyễn Thị Phú
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký TAND thị xã Quế Võ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ tham gia phiên toà: Ông Đoàn Xuân Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 183/2024/TLST - HNGĐ ngày 03/4/2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 35/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 22/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Vương Thúy V, sinh năm 1995
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988
Trú tại: Thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh.
Đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vương Thúy V trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 21/5/2020. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận một thời gian, sau đó thì xẩy ra nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, bất đồng về tính cách, kinh tế dẫn đến vợ chồng thường xuyên xô sát, cãi vã; anh T không tôn trọng chị. Vợ chồng đã ly thân đến nay được khoảng 08 tháng, không liên lạc gì.
Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2020. Hiện cháu khỏe mạnh và đang ở với anh T. Ly hôn, chị đồng ý để anh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, chị V giữ nguyên những yêu cầu trên, ngoài ra nếu anh T đồng ý tiếp tục trực tiếp nuôi cháu Đ, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Đ với mức 2.000.000đ/01 tháng kể từ tháng 6/2024 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
Ngoài ra, chị không có yêu cầu gì khác.
* Đối với bị đơn là anh Nguyễn Văn T, ở giai đoạn chuẩn bị xét xử đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa án để trình bày quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuy nhiên anh đã có mặt tại phiên tòa và trình bày:
- Về hôn nhân: Anh nhất trí với lời trình bày của chị V về quá trình kết hôn và chung sống vợ chồng. Anh cho rằng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt mà chị V tự ý bỏ đi, từ đó đến nay vợ chồng sống ly thân được khoảng 8 – 9 tháng. Anh đã nhiều lần nhắn tin cho chị V với mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng đến nay chị V vẫn không đồng ý về sống cùng anh. Anh vẫn còn yêu thương chị V nên không đồng ý ly hôn với chị V.
- Về con chung: Anh nhất trí với lời trình bày của chị V về con chung. Nếu vợ chồng buộc phải ly hôn, anh nhất trí tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đ.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quế Võ phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đều đã tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của đương sự, riêng bị đơn, trước phiên tòa hôm nay, chấp hành chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX:
Áp dụng các điều 28, 35, 39, 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- - Về hôn nhân: Chị Vương Thúy V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- - Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2020.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Vương Thúy V về việc cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Minh Đ cho anh Nguyễn Văn T với mức 2.000.000đ/01 tháng (Hai triệu đồng một tháng) từ tháng 6/2024 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị V phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
Chị Vương Thị V1 khởi kiện yêu cầu ly hôn và giải quyết vấn đề nuôi con chung với bị đơn là anh Nguyễn Văn T trú tại thôn Đ, xã Đ, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” và Tòa án nhân dân thị xã Quế Võ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Vương Thị V1 và anh Nguyễn Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ ngày 21/5/2020, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Về mâu thuẫn vợ chồng, trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án, thì thấy: Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến vài năm gần đây thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, tính cách và kinh tế, dẫn đến thường xuyên xảy ra cãi cọ, xô sát. Đến nay anh chị đã ly thân được 9 – 10 tháng.
Quá trình chuẩn bị xét xử, chị V1 xác định vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa nên nhiều lần đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử theo quy định. Anh T thừa nhận từ khi vợ chồng ly thân đã nhiều lần nhắn tin muốn hàn gắn tình cảm nhưng đều bị chị V1 cự tuyệt. Những điều này thể hiện mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung vợ chồng đã chấm dứt từ lâu, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị V1 đối với anh T.
[2.2] Về con chung: Chị V1 và anh T có 01 con chung là Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2020. Hiện cháu khỏe mạnh và đang ở với anh T. Tại phiên tòa, anh T và chị V1 đều nhất trí giao cháu Đ cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng và chị V1 tự nguyện cấp dưỡng nuôi cháu Đ cho anh T mỗi tháng 2.000.000 đồng từ tháng 6/2024 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi. HĐXX thấy rằng nguyện vọng này của anh T, chị V1 là phù hợp nên cần chấp nhận.
[2.3] Về tài sản: Các bên đương sự đều không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
[2.4] Về án phí: Chị V1 phải chịu án phí ly hôn và cấp dưỡng nuôi con sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các điều 28, 35, 39 147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về hôn nhân: Chị Vương Thúy V được ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Minh Đ, sinh ngày 20/10/2020.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Vương Thúy V về việc cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Minh Đ cho anh Nguyễn Văn T với mức 2.000.000đ/01 tháng (Hai triệu đồng một tháng) từ tháng 6/2024 đến khi cháu Đ đủ 18 tuổi.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trong trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và Gia đình có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chưa thành niên của người không trực tiếp nuôi con. Vì lợi ích của con, một hoặc các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Vương Thị V1 phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con. Xác nhận chị V1 đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0001910 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quế Võ. Chị V1 còn phải nộp 300.000 đồng.
Các đương sự đều có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đình Công |
Bản án số 26/2024/HNGĐ - ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
