Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN AN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Đông

Bà Nguyễn Thị Tĩnh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Phương Uyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Trọn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân An, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị Như L, sinh ngày: 10/8/2000 tại Tiền Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An; Nơi ở hiện tại: ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn K (chết) và bà Lê Thị T; Có một người chị sinh năm 1995; Chưa có chồng; Có hai người con, lớn nhất sinh năm 2018, nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 19/7/2023 đến ngày 22/7/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. Có mặt

- Bị hại:

  1. Anh Phan Xuân P, sinh ngày 21/4/2007
  2. Địa chỉ: Số D đường B, Khu phố D, Phường A, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

    Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Đặng Thị Kiều T1, sinh năm 1968 (mẹ ruột)

    Địa chỉ: Số D đường C, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

  3. Anh Trần Lê Hữu H, sinh ngày 05/12/2007
  4. Địa chỉ: Số A đường L, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

    Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Lê Thị Hồng L1 (mẹ ruột)

    Địa chỉ: Số A đường L, Phường E, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Võ Minh T2, sinh năm 1995.
  2. Địa chỉ: Số B Ấp C, xã H, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

  3. Bà Đặng Thị Kiều T1, sinh năm 1968
  4. Địa chỉ: Số D đường C, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

  5. Bà Đặng Thị Như Ý, sinh năm 1984
  6. Địa chỉ: Số D đường C, Phường G, thành phố T, tỉnh Long An. (vắng mặt)

  7. Bà Lê Thị Tiến
  8. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Long An

    Nơi ở hiện tại: ấp N, xã N, thành phố T, tỉnh Long An. (có mặt)

- Người làm chứng:

  1. Trương Huỳnh L2. (vắng mặt)
  2. Trần Minh H1. . (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 19/7/2023, bị cáo Lê Thị Như L đi bộ từ Nhà nghỉ P1, địa chỉ: Số A N, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An đến các tuyến đường tại khu vực KDC Đầu tư xây dựng Giai đoạn A thuộc Phường F, thành phố T, tỉnh Long An tìm tài sản để lấy trộm. Khi đi đến trước cửa quán C1, địa chỉ: Số B H, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An thì bị cáo L nhìn thấy một xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 62B1-276.79 đậu trước cửa quán cơm không có người trông coi, xe không khóa cổ nên bị cáo L nảy sinh ý định trộm cắp. Bị cáo L đi bộ tiến lại sát bên hông phải xe mô tô, hai tay cầm vào tay lái xe, dùng chân gạt chân chống. Bị cáo L dẫn bộ xe trên vỉa hè từ trước cửa Quán C1 hướng về Quốc lộ A (tuyến tránh), rẽ trái vào đường số A, KDC Đầu tư xây dựng Giai đoạn 1 đi được khoảng 300 mét đến trước nhà số B đường số A, K xây dựng Giai đoạn 1 thì bị lực lượng Công an Phường 6, thành phố T cùng người dân phát hiện bắt quả tang bị cáo L cùng xe mô tô biển số 62B1-276.79.

Qua điều tra mở rộng, bị cáo Lê Thị Như L khai nhận còn thực hiện thêm một lần chiếm đoạt tài sản của người khác, nội dung cụ thể như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 25/6/2023, bị cáo Lê Thị Như L đi bộ vào hẻm S Quốc lộ F, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, tại đây bị cáo L phát hiện có 01 chiếc xe gắn máy biển số: 62AA-035.35 đang dựng phía đối diện trước nhà số B Quốc lộ F, Phường B, thành phố T không có ai trông coi, bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và lén lút đi lại chỗ xe gắn máy này, đứng cạnh hông trái xe. Lúc này, xe đang ở trong trạng thái tắt máy, không khóa cổ, bị cáo L dùng chân phải gạc chống ngang xe, hai tay cầm vào tay lái, dẫn bộ ra Quốc lộ F hướng về Bưu điện T6 (Quốc lộ A), dẫn bộ xe này được khoảng 200 mét đến giao lộ với đường H, bị cáo nói bị mất chìa khóa xe và nhờ người đi đường đẩy xe dùm, bị cáo lên xe gắn máy ngồi cầm lái, người đi đường dùng chân đạp vào gác chân sau xe gắn máy để đẩy xe. Khi đến Bưu điện, bị cáo ghé vào chỗ làm chìa khóa xe gắn máy này với giá 20.000 đồng. Sau đó, bị cáo điều khiển xe gắn máy này chạy về nhà ở xã N, thành phố T, tỉnh Long An cất giấu, khoảng 03 ngày sau bị cáo đem chiếc xe này đến sân bóng đá ở khu dân cư xã L, thành phố T, Long An bán cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lý lịch với giá 2.000.000 đồng lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 80/KL-HĐĐGTS ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An, kết luận: Giá trị xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 62B1-276.79 đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 19/7/2023 là 10.000.000 đồng.

Tại Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐGTS ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T, tỉnh Long An, kết luận: Giá trị xe gắn máy biển số: 62AA-035.35, nhãn hiệu: ESPERO, màu xanh-đen đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 25/6/2023 là: 3.000.000 đồng.

Vật chứng và xử lý vật chứng: đã trao trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 62B1-276.79 cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đặng Thị Kiều T1 là người đại diện hợp pháp (mẹ ruột) của bị hại Phan Xuân P.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phan Xuân P đã nhận lại được tài sản bị mất nên không có yêu cầu gì. Đối với xe gắn máy biển số: 62AA-035.35 không thu hồi được, bị hại Trần Lê Hữu H yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 3.000.000 đồng.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Thị Như L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Bà Lê Thị T là mẹ ruột của bị cáo Lê Thị Như L đã thay bị cáo L nộp số tiền bồi thường cho bị hại Trần Lê Hữu H là 1.000.000đ, bà T không yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và xác định hành vi của bị cáo Lê Thị Như L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, bị cáo L phạm tội hai lần vào các ngày 25/6/2023 và 19/7/2023 nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Như L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Như L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự : Buộc bị cáo Lê Thị Như L bồi thường cho bị hại Trần Lê Hữu H số tiền 3.000.000 đồng

Bị cáo Lê Thị Như L phải có nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năng hối lỗi về hành vi của mình. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, vắng mặt bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Lời khai của bị cáo Lê Thị Như L tại phiên tòa phù lợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, bản kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 25/6/2023, tại trước nhà số B Quốc lộ F, Phường B, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Lê Thị Như L đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt một xe gắn máy biển số: 62AA-035.35, nhãn hiệu: ESPERO, màu xanh - đen của anh Trần Lê Hữu H có giá trị là 3.000.000 đồng. Đến ngày 19/7/2023, tại trước cửa quán C1, địa chỉ: Số B H, Phường F, thành phố T, tỉnh Long An, bị cáo Lê Thị Như L đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt một xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng, biển số 62B1-276.79 của anh Phan Xuân P có giá trị là 10.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 13.000.000 đồng.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định:

“Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...”

Bị cáo L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác có tổng giá trị là 13.000.000 đồng với lỗi cố ý trực tiếp nên bị cáo phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân An truy tố bị cáo Lê Thị Như L về tội “trộm cắp tài sản” theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

[3.1] Hành vi phạm tội do bị cáo L thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xuất phát từ động cơ tham lam, tư lợi, muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động, thích hưởng thụ nên lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt, hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ mà bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo thành người tốt và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại Trần Lê Hữu H có giá trị 3.000.000 đồng vào ngày 25/6/2023 và tài sản của bị hại Phan Xuân P có giá trị 10.000.000 đồng vào ngày 19/7/2023 là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tài sản được thu hồi một phần trả cho chủ sở hữu, bị cáo có tác động gia đình nộp tiền để bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại, gia đình bị cáo khó khăn và đang phải nuôi hai con nhỏ. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.

[4] Đối với người đàn ông đã mua xe gắn máy biển số 62AA-035.35 do bị cáo L bán tại sân bóng đá xã L, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau là phù hợp.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bà Đặng Thị Kiều T1 là người đại diện của bị hại Phan Xuân P đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt là xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển số 62B1-276.79, bị hại P và người đại diện không yêu cầu gì khác nên không đề cập. Đối với xe gắn máy biển số 62AA-035.35 nhãn hiệu ESPERO màu xanh-đen: bị cáo chiếm đoạt của anh Trần Lê Hữu H không thu hồi được. Anh H có yêu cầu bị cáo L bồi thường giá trị xe gắn máy biển số 62AA-035.35 nhãn hiệu ESPERO màu xanh-đen là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng). Tại phiên toà, bị cáo L đồng ý bồi thường cho anh H số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng). Vì vậy, có căn cứ công nhận sự tự nguyện thoả thuận của bị cáo L và bị hại Trần Lê Hữu H như sau: bị cáo Lê Thị Như L có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Lê Hữu H giá trị xe gắn máy biển số 62AA-035.35 nhãn hiệu ESPERO màu xanh-đen là 3.000.000đ (ba triệu đồng), đã bồi thường được 1.000.000đ (một triệu đồng) vào ngày 29/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An theo biên lai thu tiền số 0000834 ngày 29/3/2024, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng).

Bà Lê Thị T là mẹ ruột của bị cáo L có nộp thay bị cáo số tiền 1.000.000 đồng để bồi thường thiệt hại cho bị hại Trần Lê Hữu H. Bà T không yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền này nên không đề cập đến.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Như L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Như L 08 (T3) tháng 28 (Hai mươi tám) ngày tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/7/2023.

Căn cứ vào Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do cho bị cáo Lê Thị Như L kể từ ngày tuyên án (16/4/2024) do thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam.

Trách nhiệm dân sự:

Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357, Điều 368, Điều 589 Bộ luật Dân sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự:

Công nhận sự thoả thuận của bị cáo Lê Thị Như L và anh Trần Lê Hữu H: bị cáo Lê Thị Như L có nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Lê Hữu H giá trị xe gắn máy biển số 62AA-035.35 nhãn hiệu ESPERO màu xanh-đen là 3.000.000₫ (Ba triệu đồng), đã bồi thường được 1.000.000đ (một triệu đồng) vào ngày 29/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân An, tỉnh Long An theo biên lai thu tiền số 0000834 ngày 29/3/2024, còn phải tiếp tục bồi thường số tiền là 2.000.000₫ (Hai triệu đồng).

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác

Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo Lê Thị Như L phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND TP Tân An;
  • - Công an TP Tân An;
  • - Chi cục THADS TP Tân An;
  • - UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Long An;
  • - Bị cáo, đương sự;
  • - Bộ phận THA hình sự;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Cẩm Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN AN, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Như L "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger