Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 15- 8 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Kiên

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Khiểu và bà Vừ Y Xừ

- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vương Quốc Khánh- Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lữ Văn T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 05 tháng 7 năm 2002 tại huyện K, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: bản L, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lữ Văn T1 và bà Lương Thị H (Đã chết); vợ con: Chưa có; tiền sự: Có 01 tiền sự; ngày 25/4/2022 bị Tòa án nhân huện K, tỉnh Nghệ An ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 53/QĐ-TA, ngày 25/4/2022 với thời hạn là 12 (mười hai) tháng. Đã chấp hành xong quyết định ngày 08/12/2022, chưa hết thời hạn được coi chưa bị xử lý vi phạm hành chính; tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay, Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.
  2. Họ và tên: Lin Văn M, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 19 tháng 6 năm 2003 tại huyện K, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: bản L, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Khơ mú; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lin Văn H1 (Đã chết) và bà Lương Thị L; sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 đến nay, Hiện đang bị tạm giam tại nhàgiữ Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho các bị Lữ Văn TLin Văn M: Ông Lê Công T2, Trợ giúp viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt tại phiên toà.

- Người chứng kiến: Anh Hồ Nguyên T3, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: khối E, thị trấn M, huyện K, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 6 giờ 30 phút, ngày 07/6/2024, bị cáo Lữ Văn T rủ bị cáo Lin Văn M đi mua ma túy về cùng sử dụng thì Lin Văn M đồng ý. Sau khi thống nhất cùng góp mỗi bị cáo 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn đồng) để đi mua, bị cáo T và bị cáo M cùng đi bộ vào bản X, xã H, huyện K để tìm mua ma túy. Khi đi đến nơi, bị cáo T và bị cáo M gặp một người đàn ông không quen biết, lúc này bị cáo T hỏi “Có ma túy bán không?” thì người đàn ông đó trả lời “Có, lấy bao nhiêu tiền?”, bị cáo T nói “Lấy ba trăm nghìn đồng ma túy loại heroine”, người đàn ông đó nói bị cáo T và bị cáo M đến khu vực đoạn đường đất thuộc bản X, xã H, huyện K để đợi.

Đến khoảng 09 giờ, ngày 07/6/2024, người đàn ông đó quay lại đưa cho bị cáo T 01 (một) gói ma túy được gói bằng bao Potylen màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng; bị cáo T đưa lại cho người đàn ông đó số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, bị cáo T cầm gói ma túy trong lòng bàn tay phải rồi cùng bị cáo M đi bộ quay về. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo TM đang trên đường về đến khu vực bản Xốp Thạng, xã H, huyện K thì bị tổ công tác Công an huyện K phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong bàn tay phải của bị cáo T 01(một) gói potylen màu trắng, bên trong chứa chất màu trắng (Nghi là ma túy).

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại được lập vào hồi 11 giờ 30 phút, ngày 07/6/2024 của Hội đồng mở niên phong Công an huyện K, xác định: 01 (Một) gói chất màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ của Lữ Văn TLin Văn M, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng 0,245 (Không phẩy hai trăm bốn mươi lăm) gam.

Tại Bản kết luận giám định số 637/KL-KTHS (Đ2-MT) ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất màu trắng thu giữ của bị cáo Lữ Văn T và bị cáo Lin Văn M gửi tới giám định là ma túy; loại Heroine.

Tại phiên tòa, các bị cáo Lữ Văn TLin Văn M đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mục đích mua ma túy về là để sử dụng. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ 0,245 gam Heroine (Đã trích giám định hết 0,1 gam Heroine, còn lại 0,145 gam Heroine). Hiện số vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.

Tại phiên toà, đại diện VKSND huyện Kỳ Sơn giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như bản Cáo trạng số 26/CT- VKS-KS ngày 15/7/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về hình phạt. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Lữ Văn T mức án từ 15(Mười lăm) tháng tù đến 20 (Hai mươi) tháng tù; xử phạt bị cáo Lin Văn M mức án từ 14(Mười bốn) tháng tù đến 18(Mười tám) tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là 0,145 gam Heroine cùng vỏ bao bì niêm phong ban đầu được niêm phong lại bằng phong bì thư và dán kín, trên mép dán có chữ ký của các bị cáo và hội đồng tham gia niêm phong. Hiện, số vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn.
  • - Về án phí: Các bị cáo Lữ Văn TLin Văn M là người dân tộc thiểu số, thuộc vùng đặc biệt khó khăn nên căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
  • - Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Về tội danh và điều luật áp dụng đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật hạn chế, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất mà đại diện V đã đề nghị, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo, xin được miễn án phí cho các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến gì thêm và đồng ý với lời bào chữa của người bào chữa.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng, không tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà các các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
    • - Tại phiên toà, các bị cáo đề nghị Trợ giúp viên Nhà nước thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N bào chữa cho các bị cáo và tại phiên toà người bào chữa đồng ý bào chữa cho các bị cáo là đúng quy định của pháp luật và được Hội đồng xét xử chấp nhận.
    • - Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến, tuy nhiên quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ vụ án. Do đó, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. [2] Về nội dung:
    1. [2.1] Xét hành vi của các bị cáo: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 07/6/2024, tại khu vực bản X, xã H, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Công an huyện K, tỉnh Nghệ An đã phát hiện, bắt quả tang Lữ Văn TLin Văn M khi đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,245 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng.

      Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Hành vi đó của các bị cáo Lữ Văn TLin Văn M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

    2. [2.2] Xét tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo:
      • - Tội phạm các bị cáo thực hiện thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội. Việc sử dụng ma túy là rất nguy hiểm cho sức khỏe và là nguyên nhân dẫn đến lây lan căn bệnh thế kỷ HIV - AIDS. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, động cơ mục đích phạm tội là tàng trữ để sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân.
      • Đối với bị cáo Lữ Văn T, bị cáo đã từng bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để cai nghiện, sau khi cai nghiện thành công trở về địa phương không lấy đó làm bài học cho mình, không chịu khó tu dưỡng, rèn luyện bản thân để sống có ích gia đình và xã hội mà lại tiếp tục nghiện ma túy, điều đó chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Các đối tượng là tầng lớp thanh, thiếu niên là nguồn lao động chính trong xã hội, làm giảm sức lao động và là nguyên nhân nảy sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Trong vụ án có đồng phạm tham gia, do vậy khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, hội đồng xét xử cần xem xét đến vai trò, đặc điểm nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, mức độ nghiêm trọng do hành vi phạm tội của các bị cáo để ra một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
      • - Xét vai trò của các bị cáo: Bị cáo Lữ Văn T giữ vai trò chính, trực tiếp rủ bị cáo Lin Văn M góp tiền mua ma túy để các bị cáo cùng nhau sử dụng, bị cáo là người trực tiếp đứng ra giao dịch để mua ma túy, cất giữ ma túy. Bị cáo Lin Văn M giữ vai trò đồng phạm tích cực; khi được Lữ Văn T rủ góp tiền và cùng T đi mua ma túy, bị cáo cũng đồng tình cùng T đi mua ma túy. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm trực tiếp tiếp tay cho hành vi mua bán trái phép trái phép chất ma túy. Vì vậy, khi cân nhắc hình phạt đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian; mức hình phạt đối với bị cáo Lữ Văn T phải cao hơn bị cáo Lin Văn M và tuyên phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tính giáo dục, phòng ngừa chung.
    3. [2.3]. Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
      • Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
      • Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra các bị cáo đã đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Do vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
    4. [2.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền nhưng xét thấy các bị cáo không có tài sản gì lớn, là đối tượng nghiện ma tuý, sinh sống nơi khó khăn vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  3. [3] Về vật chứng: Số ma túy còn lại là 0,145 gam Heroine. Đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ lưu hành nên phải tịch thu tiêu huỷ.
  4. [4] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lữ Văn TLin Văn M.
  5. [5] Đối với người đàn ông không quen biết đã bán ma túy cho các bị cáo: Quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được danh tính cụ thể của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đang tiếp tục xác minh, điều tra khi nào có kết quả sẽ xử lý.
  6. [6] Về các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, lời bào chữa của người bào chữa tại phiên toà và việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  1. [1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s, khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
    • - Tuyên bố: Các bị cáo Lữ Văn TLin Văn M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
    • - Xử phạt: Bị cáo Lữ Văn T 17(Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam (Tức là ngày 07/6/2024);
    • - Xử phạt bị cáo Lin Văn M 14(Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để tạm giữ, tạm giam (Tức là ngày 07/6/2024);
    • - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
  2. [2] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại là là 0,145 gam Heroine, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn, Nghệ An. (Chi tiết vật chứng được thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K và Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn ngày 19/7/2024).
  3. [3] Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lữ Văn TLin Văn M.
  4. [4]. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Nơi nhân:

  • - VKSND huyện Kỳ Sơn
  • - Công an huyện Kỳ Sơn
  • - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn
  • - Các Bị cáo
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An
  • - TAND tỉnh Nghệ An
  • - UBND xã Chiêu Lưu, huyện Kỳ Sơn
  • - Lưu hồ sơ vụ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Văn Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lữ Văn Tý và Lin Văn Mùi phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger