Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày 15 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và Bà Vũ Thị Tịnh.
  • Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyền.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 08/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST- HS ngày 01/4/2024, đối với các bị cáo:

  1. Lê Văn T, sinh năm 1984; Giới tính: Nam.
    • Nơi cư trú: thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
    • Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
    • Trình độ văn hóa: 01/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
    • Con ông: Lê Văn T1 và con bà: Tường Thị H;
    • A, chị, em: Có 02 người. Bị can là con thứ nhất;
    • Có vợ: Lê Thị T2; có 01 con sinh năm 2019;
    • Tiền sự: Không
    • Tiền án: Ngày 04/3/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/02/2022.
    • Nhân thân: Ngày 27/12/2005 bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử 02 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, về tội: Cố ý gây thương tích.
    • Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt).
  2. Đỗ Như Việt Đ, sinh năm 1982, Giới tính: Nam.
    • Nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
    • Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không.
    • Trình độ văn hóa: 12/12, Nghề nghiệp: Lao động tự do.
    • Con ông: Đỗ Như P và con bà: Lê Thị L;
    • A, chị, em: Có 04 người. Bị cáo là con thứ ba;
    • Vợ: Nguyễn Thị H1; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2011;
    • Tiền án, tiền sự: Không
    • Nhân thân: Ngày 28/09/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử 02 năm tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • Ngày 03/5/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử 09 tháng tù, về tội: Trộm cắp tài sản.
    • Ngày 01/11/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội xử 28 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
    • Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/01/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K (Có mặt).

+ Người bị hại.

  • Anh Lê Thế Q, sinh năm 1994.
  • Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • (Vắng mặt)

+ Người làm chứng:

  • Anh Lê Trọng T3, SN 1998.
  • Hiện trú tại: Thôn Đ, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • Anh Đào Văn T4, sinh năm 1976.
  • Nơi cư trú: Thôn Y, xã D, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • Ông Lê Văn T1, sinh năm 1957.
  • Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 15 phút, ngày 18/11/2023, Lê Văn T, sinh năm 1984, trú tại: thôn C, xã Đ, huyện K điều khiển chiếc xe mô tô Angel màu bạc biển số 89F8 - 8080 đến đón Đỗ Như Việt Đ, sinh năm 1982, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K để vào Trung tâm huyện K chơi. Trên đường đi, khi đến gần quán T6 của anh Lê Trọng T5, sinh năm 1979 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K. T và Đ quan sát thấy có chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ để trong hốc để đồ bên trái của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision biển số 89E1-619.73 của anh Lê Thế Q, sinh năm 1994, trú tại: thôn Đ, xã Đ, huyện K dựng trước cửa quán. Quan sát xung quanh không có người nên nảy sinh ý định trộm cắp mang bán lấy tiền tiêu sài. T điều khiển xe mô tô chở Đ đến gần chiếc xe mô tô biển số 89E1-619.73 và bảo với Đ: “Điện thoại kìa, lấy đi”. Đ hiểu ý của T là bảo mình lấy trộm chiếc điện thoại di động nên Đ dùng tay phải thò vào hốc để đồ của xe mô tô biển số 89E1-619.73 và lấy chiếc điện thoại di động cầm ở tay. Sau khi lấy được điện thoại, T điều khiển xe chở Đ đến cửa hàng mua bán điện thoại di động Phương Thức của anh Đào Văn T4, sinh năm 1976, trú tại: thôn Y, xã D, huyện K. Toán mang điện thoại vào quán và nói dối với anh T4 là điện thoại của mình nên anh T4 đã mua với giá 1.500.000 đồng. Toán chia cho Đ 700.000 đồng, còn T được 800.000 đồng, số tiền này cả hai đã chi tiêu hết cho bản thân. Cùng ngày, anh Lê Thế Q đã có đơn trình báo Công an xã Đ đề nghị giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/11/2023, Công an xã Đ trích xuất hình ảnh video tại quán Trà chanh Bụi P1 ghi lại diễn biến vụ việc và chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K giải quyết theo quy định.

Vật chứng thu giữ gồm: Ngày 20/11/2023, anh Đào Văn T4 tự nguyện giao nộp cho Công an xã Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ, bản Quốc tế, bộ nhớ trong 64GB. Trong tình trạng máy bị hỏng màn hình, các bộ phận khác sử dụng bình thường.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 71/KL-HDĐGTS ngày 26/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện K, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ, bản Quốc tế, bộ nhớ trong 64GB. Trong tình trạng máy bị hỏng màn hình, các bộ phận khác sử dụng bình thường, có trị giá 3.750.000 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 23/2024/KL-KTHS(KTS) đề ngày 21/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh H, kết luận: Không phát hiện thấy dấu hiệu cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video gửi giám định.

Về xử lý vật chứng: Ngày 27/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ cho anh Lê Thế Q. Anh Q đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Angel, biển kiểm soát 89F8 - 8080, quá trình điều tra xác định: là tài sản của ông Lê Văn T1, sinh năm 1957 ở thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên (bố đẻ của T). Sáng ngày 18/11/2023, T tự ý lấy chiếc xe để sử dụng, ông T1 không biết T sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để thu giữ chiếc xe mô tô.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Lê Văn T đã bồi thường trả cho anh Đào Văn T4 số tiền 1.500.000 đồng. Anh T4 đã nhận tiền và không yêu cầu đề nghị gì.

Tại bản cáo trạng số: 30/CT - VKSKC ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố các bị cáo Lê Văn T; Đỗ Như Việt Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Lê Văn T; Đỗ Như Việt Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, điểm b, s khoản 1 Điều 51 (đối với T, Đ); điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự (đối với T); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xử phạt Lê Văn T từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm tù; Đỗ Như Việt Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 01 năm 09 tháng tù.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  • - Về xử lý vật chứng không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Cả 2 bị cáo T, Đ khai báo tại phiên tòa đã cùng nhau bồi thường cho anh T4 số tiền 1.500.000đ, giữa các bị cáo không có ý kiến hay kiến nghị gì khác; anh T4 không có ý kiến gì nên không đặt ra xem xét.
  • - Bị cáo T; Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình và địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, việc giao nộp và thu thập tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn T; Đỗ Như Việt Đ thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án như: Trích xuất hình ảnh video tại quán T6 ghi lại diễn biến vụ việc ngày 18/11/2023, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người bị hại, người làm chứng. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 08 giờ 15 phút ngày 18/11/2023 tại quán Trà Chanh Bụi P của anh Lê Trọng T5 ở thôn Đ, xã Đ, huyện K. Lê Văn T và Đỗ Như Việt Đ đã có hành vi nén lút trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ, bản Quốc tế, bộ nhớ trong 64GB, tình trạng máy bị hỏng màn hình, các bộ phận khác sử dụng bình thường, của anh Lê Thế Q ở thôn Đ, xã Đ, huyện K có giá trị 3.750.000 đồng.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, vì tham lam tư lợi, muốn hưởng thụ nhưng lười lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi của các bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử quyết định xử các bị cáo một mức án tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời cũng nhằm phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt của bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu truy tố các bị cáo Lê Văn T, Đỗ Như Việt Đ là có căn cứ, đúng pháp luật.

Trong vụ án này, bị cáo Lê Văn T là người khởi xướng, thực hành tích cực nên giữ vai trò chính; bị cáo Đỗ Như Việt Đ đồng phạm giữ vai trò thực hành tích cực.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo:

  • Về tình tiết tăng nặng: Ngày 04/3/2021, T bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong án tù ngày 25/02/2022, chưa được xóa án tích lại phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo T, Đ không có tiền sự nhưng đều có nhân thân xấu.
  • Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; cả hai bị cáo khai báo thống nhất đã cùng bồi thường số tiền 1.500.000đ cho anh Đào Văn T4; giữa các bị cáo không có ý kiến, đề nghị gì; anh T4 không có kiến nghị gì nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm và không có thu nhập ổn định nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng, trách nhiệm dân sự: đã xử lý, giải quyết xong nên không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 (đối với bị cáo T, Đ); điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo T) của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Điều 106; 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015.

Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Lê Văn T; Đỗ Như Việt Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Lê Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù từ ngày tạm giữ, tạm giam 27/12/2023.

Bị cáo Đỗ Như Việt Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù từ ngày bị bắt truy nã, tạm giữ, tạm giam 31/01/2024.

3. Về vật chứng, trách nhiệm dân sự: đã xử lý, giải quyết xong nên không xem xét.

4. Về án phí: Các bị cáo Lê Văn T, Đỗ Như Việt Đ mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hưng Yên;
  • - VKSND huyện Khoái Châu;
  • - Công an huyện Khoái Châu;
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu;
  • - UBND xã Đại Tập;
  • - UBND xã Đông Kết;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger