TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày: 14 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Duyên
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tuấn Chiến
- Ông Vũ Quý Đông
- - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Duyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Kim D, sinh ngày 10 tháng 6 năm 1982, tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: Khu F, xã M, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái: Đảng viên Đ (bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 30/7/2024); Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1954 và bà: Lê Thị T, sinh năm 1958; Chồng: Nguyễn Anh T1, sinh năm 1982 (Đã ly hôn) và có: 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, huyện Đ. Có mặt
Bị hại: Chị Bùi Thị Thu T2, sinh năm 1984. Có mặt
Nơi cư trú: Khu A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Kim D sinh năm 1982 ở khu F, xã M, huyện Đ và anh Nguyễn Anh T1 sinh năm 1982 ở khu E, xã M, huyện Đ từng là vợ chồng. Sau khi ly hôn với D, anh T1 kết hôn với chị Bùi Thị Thu T2 sinh năm 1984 ở khu A, thị trấn T, huyện T, từ đó giữa D và vợ chồng anh T1 xảy ra mâu thuẫn.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, D cùng đồng nghiệp của mình là chị Hà Kiều N sinh năm 1987 ở khu E, xã M, ông Nguyễn Văn Q sinh năm 1967 ở khu F, xã M và ông Trần Xuân N1 sinh năm 1966 ở khu G, xã M đi đến nhà ông Lê Thế T3 sinh năm 1960 ở khu E, xã M để dự đám cưới. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, chị T2 cũng điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Ford - Fiesta biển số 19A - 217.60 của mình chở anh T1 cùng đến dự đám cưới trên. Đến nơi, chị T2 đỗ xe tại ven đường bê tông thuộc khu E, xã M, cách cổng nhà ông T3 khoảng 200m rồi cùng anh T1 vào dự đám cưới.
Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi dự đám cưới xong, D cùng chị N, ông Q và ông N1 ra về. Khi đi đến ngã ba đường bê tông liên khu cách nhà ông T3 khoảng hơn 100m, ông Q và ông N1 dừng lại vào xem cây ở ven đường. Lúc này, do có uống rượu trong đám cưới nên D cũng bảo chị N dừng xe lại đợi để D đi nôn. Sau khi xuống xe, D một mình đi bộ về phía vườn cỏ cách đó khoảng 20m để nôn. Trên đường quay lại chỗ chị N, D nhìn thấy chiếc xe ô tô của chị T2 đang đỗ ở ven đường, gương chiếu hậu bên phải của xe không cụp. Do có mâu thuẫn tình cảm với chị T2 từ trước nên D đã nảy sinh ý định làm hư hỏng chiếc xe ô tô trên. D đi đến vị trí gương chiếu hậu của xe, dùng tay đập 01 - 02 phát vào cụm gương, đấm 01 phát vào mặt gương rồi gập gương vào trong, giật ra phía ngoài làm các mảnh vỏ ốp ngoài và mặt gương rơi xuống đất rồi dùng chân phải đang đi dép cao gót dẫm vỡ mặt gương xe. Sau đó, do vẫn còn bực tức, D tiếp tục đi ra phía trước đầu xe ô tô, dùng chân phải đang đi dép cao gót đá 01 cái vào vào biển số phía trước rồi ngồi xổm xuống, dùng tay phải cầm vào mép trên bên phải của biển số, bẻ cong biển số về phía trước. Thực hiện xong, D đi bộ ra chỗ chị N đứng đợi rồi cùng chị N đi về Ủy ban nhân dân xã M nơi Dung công tác.
Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, chị T2 và anh T1 phát hiện xe ô tô bị làm hư hỏng nên đã trình báo đến Công an xã M. Sau khi tiến hành các hoạt động xác minh ban đầu, xét thấy sự việc có dấu hiệu tội phạm, Công an xã M đã chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS ngày 05/4/2024, Hội đồng định giá tài sản huyện Đ kết luận:
“Giá trị thay thế, sửa chữa gương chiếu hậu bên phải, ép biển số xe của xe ô tô con nhãn hiệu Ford - Fiesta biển số 19A - 217.60 vào thời điểm tháng 3/2024 là 5.832.000đ, (năm triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim D đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Lời khai của D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác cũng như vật chứng đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Về vật chứng của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 chân gương chiếu hậu bên phải của xe ô tô màu đen, bị gãy 01 cá; 01 giá đỡ mặt gương xe ô tô bằng nhựa màu đen, bị gãy 01 cá; 01 gáo gương ô tô bằng nhựa màu trắng, bị gãy 01 cá, bề mặt có nhiều vết xước sơn; 01 mặt kính gương xe ô tô bị vỡ; 01 mặt nạ xi nhan bị vỡ góc của xe ô tô nhãn hiệu Ford Fiesta biển số 19A - 217.60 cùng 01 đôi dép cao gót mà D sử dụng làm hư hỏng tài sản trên. Các vật chứng này đã chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại là chị Bùi Thị Thu T2 số tiền 6.000.000đ. Chị T2 đã nhận đủ tiền, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác.
Tại bản Cáo trạng số: 29/CT - VKSĐH ngày 26/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim D về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử::
- Về trách nhiệm hình sự:
- Căn cứ khoản 1 Điều 178, Điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim D từ 10.000.000 đồng đến15.000.000 đồng để nộp Ngân sách nhà nước.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Xác nhận cáo đã bồi thường cho bị hại là chị Bùi Thị Thu T2 số tiền là 6.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác nên không phải giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu đề tiêu hủy: 01 chân gương chiếu hậu bên phải của xe ô tô màu đen, bị gãy 01 cá; 01 giá đỡ mặt gương xe ô tô bằng nhựa màu đen, bị gãy 01 cá; 01 gáo gương ô tô bằng nhựa màu trắng, bị gãy 01 cá, bề mặt có nhiều vết xước sơn; 01 mặt kính gương xe ô tô bị vỡ; 01 mặt nạ xi nhan bị vỡ góc của xe ô tô nhãn hiệu Ford Fiesta biển số 19A - 217.60 cùng 01 đôi dép cao gót mà D sử dụng làm hư hỏng
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, án phí, lệ phí Tòa án.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận, không bào chữa gì, thừa nhận hành vi phạm tội và ăn năn hối hận với hành vi phạm tội của bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đ, hành vi tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án, Quyết định tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, tại ven đường bê tông thuộc khu E, xã M, huyện Đ, do có mâu thuẫn với chị Bùi Thị Thu T2 từ trước nên Nguyễn Thị Kim D đã có hành vi dùng tay, chân đập phá gương chiếu hậu bên phải, dùng chân đá và dùng tay bẻ cong biển số phía trước xe ô tô nhãn hiệu Ford Fiesta biển sô 19A - 217.60 của chị T2. Hậu quả: Xe ô tô biển số 19A - 217.60 bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại là 5.832.000đ (năm triệu tám trăm ba mươi hai nghìn đồng).
Hành vi nêu trên của Nguyễn Thị Kim D đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Do vậy, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim D là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại và hậu quả gây ra nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với mong muốn giải tỏa bức xúc trong chuyện tình cảm.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là: Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc và trường hợp ít nghiêm trọng; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo còn được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự là: Bố đẻ bị cáo là người có công với cách mạng được nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương kháng chiến, Bằng khen; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trên địa bàn và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, cần chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 178 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Do đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu để tiêu hủy.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận cáo đã bồi thường cho bị hại là chị Bùi Thị Thu T2 số tiền là 6.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác nên không phải giải quyết.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; Điểm b,i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106; Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản"
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim D 15.000.000 đồng (Mười Lăm triệu đồng) để nộp Ngân sách nhà nước.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự:
Xác nhận cáo đã bồi thường cho bị hại là chị Bùi Thị Thu T2 số tiền là 6.000.000 đồng, bị hại không có yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác nên không phải giải quyết.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu đề tiêu hủy các vật chứng không còn giá trị sử dụng: 01 chân gương chiếu hậu bên phải của xe ô tô màu đen, bị gãy 01 cá; 01 giá đỡ mặt gương xe ô tô bằng nhựa màu đen, bị gãy 01 cá; 01 gáo gương ô tô bằng nhựa màu trắng, bị gãy 01 cá, bề mặt có nhiều vết xước sơn; 01 mặt kính gương xe ô tô bị vỡ; 01 mặt nạ xi nhan bị vỡ góc của xe ô tô nhãn hiệu Ford Fiesta biển số 19A - 217.60 cùng 01 đôi dép cao gót mà D sử dụng làm hư hỏng tài sản.
(Các vật chứng được miêu tả theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 26/7/2024 và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng).
- Về án phí:
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Thị Duyên |
6
7
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý làm hư hỏng tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án cố ý làm hư hỏng tài sản
