Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HIỆP

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DSST

Ngày 14-06-2024

V/v tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Kim Khoe.
  2. Bà Phan Thị Trúc Phương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni – Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 190/2023/TLST–DS ngày 09 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2024/QÐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1

Địa chỉ: số D P, phường V, TP ., tỉnh Kiên Giang.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc M – Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Thừa ủy quyền của Tổng Giám đốc: ông Lê Trung V – chức vụ: Phó Tổng Giám đốc (Theo Quyết định 275/QĐ – NHKL ngày 18/01/2023).

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Việt Q – Chức vụ: Giám đốc Phòng Xử lý nợ (Theo quyết định 302/QĐ – NHKL ngày 01/02/2023)

Địa chỉ: Số D - 42 - D P, phường V, TP ., tỉnh Kiên Giang.

Người được ủy quyền lại: ông Huỳnh Nguyễn Hồng P – Chức vụ: Chuyên viên xử lý nợ - Phòng xử lý nợ – Ngân hàng TMCP K1. (có mặt)

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K – sinh năm 1957 (Vắng mặt)

Nguyễn Thị R – sinh năm 1959 (Vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp Kinh 7B, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Nay là: ấp Thạnh Lợi, xã Thạnh Đông A, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1973 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền lại của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 ông Huỳnh Nguyễn Hồng P trình bày:

Vào ngày 16/12/2011 giữa Ngân hàng K1 – Phòng G có ký Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số QH0054/HĐTDHM với ông ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R. Đến ngày 21/6/2012, Ngân hàng TMCP K1 – Phòng G có ký Hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD với ông ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R, cụ thể như sau:

  • Số tiền vay là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng)
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn SXNN, chăn nuôi heo.
  • Giải ngân ngày: 21/6/2012
  • Thời hạn vay: 14 tháng, ngày đến hạn 21/8/2013
  • Lãi suất cho vay: 1.65%/tháng. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 6 tháng một lần, được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ Ngân hàng TMCP K1 tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ 0,84%/tháng.
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm nợ quá hạn.
  • Hình thức thanh toán: Lãi trong 6 tháng/ lần và gốc trả cuối kỳ, có phụ lục hợp đồng tín dụng kèo theo.

Tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay của hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD ngày 21/6/2012 theo hợp đồng thế chấp số QH0054/HĐTC ngày 15/12/2011 gồm có: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thổ cư + LNK, hoang, 2 lúa (Tổng diện tích 16.200m²) đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, thuộc tờ bản đồ số 6, thửa đất số 763, 761, 760, 762 theo giấy chứng nhận QSD đất số A 824299 do UBND huyện T cấp ngày 26/7/1992 đứng tên ông Nguyễn Văn K.

Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được UBND xã T chứng thực ngày 15/12/2011 và tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký QSD đất huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 29/12/2011.

Trong quá trình vay vốn, ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị R liên tục vi phạm hợp đồng, không thanh toán nợ cho Ngân hàng khi đến hạn đến ngày 21/12/2022 thì ông K, bà R trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 195.000.000đ, Ngân hàng đã

nhiều lần thông báo, nhắc nhở nhưng ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị R không có thiện chí hợp tác thanh toán nợ cho Ngân hàng và hiện tại hợp đồng đã quá hạn thanh toán nhưng ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị R vẫn chưa thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng đã ký.Tạm tính đến ngày 14/06/2024 ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị R còn nợ Ngân hàng tổng số tiền 795.034.048đ. Trong đó: Vốn hốc: 5.000.000đ; Tiền lãi trong hạn: 22.054.333đ; Tiền phạt chậm trả lãi: 181.192.465đ; Tiền lãi quá hạn: 586.787.250đ, tổng cộng là 795.034.048₫.

Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền Ngân hàng TMCP K1 xin rút lại yêu cầu số tiền phạt chậm trả lãi là 181.192.465đ; Yêu cầu ông K, bà R phải trả cho Ngân hàng số tiền tạm tính đến ngày 14/06/2024 là 613.841.583đ, (Trong đó: Vốn gốc: 5.000.000đ; Tiền lãi trong hạn: 22.054.333đ; Tiền lãi quá hạn: 586.787.250₫ và tiến lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký.

Trường hợp ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R không trả hoặc trả không dứt nợ thì Ngân hàng yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R để thu hồi nợ.

* Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa án bị đơn bà Nguyễn Thị R trình bày: Vào ngày 21/6/2012, Ngân hàng TMCP K1 – Phòng G có ký Hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD với ông ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R, cụ thể như sau:

  • Số tiền vay là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng)
  • Mục đích vay: Bổ sung vốn SXNN, chăn nuôi heo.
  • Giải ngân ngày: 21/6/2012
  • Thời hạn vay: 14 tháng, ngày đến hạn 21/8/2013
  • Lãi suất cho vay: 1.65%/tháng. Lãi suất cho vay được điều chỉnh 6 tháng một lần, được tính bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn 13 tháng, lãnh lãi cuối kỳ Ngân hàng TMCP K1 tại thời điểm thay đổi lãi suất cộng biên độ 0,84%/tháng.
  • Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất cho vay ngay trước thời điểm nợ quá hạn.
  • Hình thức thanh toán: Lãi trong 6 tháng/ lần và gốc trả cuối kỳ, có phục lục hợp đồng tín dụng kèo theo.

Tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay của hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD ngày 21/6/2012 theo hợp đồng thế chấp số QH0054/HĐTC ngày 15/12/2011 gồm có: Quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thổ cư + LNK, hoang, 2 lúa (Tổng diện tích 16.200m²) đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, thuộc tờ bản đồ số 6, thửa đất số 763, 761, 760, 762 theo giấy chứng nhận QSD đất số A 824299 do UBND huyện T cấp ngày 26/7/1992 đứng tên ông Nguyễn Văn K.

Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên đã được UBND xã T chứng thực ngày 15/12/2011 và tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng đăng ký QSD đất huyện T, tỉnh Kiên Giang ngày 29/12/2011.

Phần đất thế chấp trên hiện nay đang cho con trai bà là anh Nguyễn Văn H thuê lại phần đất lúa thuộc thửa 762, tờ bản đồ số 6, diện tích 9.360m2.

Nay bà R thừa nhận còn nợ Ngân hàng tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 23/11/2023 là 613.257.055₫ (Sáu trăm mười ba triệu hai trăm năm mươi bảy ngàn không trăm năm mươi lăm đồng). Nay bà R xin trả gốc và lãi là 300.000.000₫ trong thời hạn 4 tháng. Nếu Ngân hàng không đồng ý thì bà đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ.

* Theo bản tự khai và các lời khai tại Tòa án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H trình bày: Hiện nay phần đất đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP K1 thì anh đang thuê thuộc thửa đất số 762, diện tích 9.360m2 của ông K, bà R là ba mẹ ruột của anh mỗi năm là 35.000.000đ/năm, không có nói thời hạn thuê đất ruộng.

Tại phiên tòa anh H đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản nêu trên để thu hồi nợ của Ngân hàng nếu ông K, bà R không có tiền trả cho Ngân hàng và anh không yêu cầu ông K, bà R phải trả cho ông số tiền mà anh đã thuê đất của ông K, bà R là 35.000.000₫.

Do bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt không lý do nên không có lời khai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Quan hệ pháp luật tranh chấp xảy ra giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R là tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 được quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo về phiên hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng tại phiên tòa hôm nay ông K vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, tại phiên tòa người đại diện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1, bà Nguyễn Thị R, anh Nguyễn Văn H yêu cầu Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K. Do vậy, Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt ông Nguyễn Văn K.

- Về nội dung tranh chấp:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[1] Xét thấy, Hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD ngày 21/6/2012 đã được các bên ký kết đúng theo quy định của pháp luật. Hợp đồng này có thời hạn hoàn tất hợp đồng. Do đó Hội đồng xét xử thống nhất công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R là hợp pháp.

[2] Xét thấy, ngày 21/6/2012 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R có ký Hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD để vay số nợ gốc là 200.000.000đ. Trong quá trình vay đến ngày 21/12/2022 ông K, bà R chỉ trả được số tiền gốc là 195.000.000₫ sau đó ông K, bà R không thực hiện việc trả nợ gốc và lãi theo định kỳ đã thỏa thuận với Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 - là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định trong hợp đồng. Do vậy, việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 yêu cầu ông K, bà R phải thanh toán nợ cho Ngân hàng là có căn cứ.

Căn cứ Điều 91 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ chứng minh, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay thì bị đơn ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 khi đến hạn.

[3] Về lãi suất: Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 yêu cầu tính lãi theo hợp đồng hai bên đã ký kết tạm tính đến ngày 14/06/2024 và lãi phát sinh đến khi thanh toán xong cho Ngân hàng, ngoài ra tại phiên tòa Ngân hàng xin rút lại yêu cầu tiền lãi chậm trả là 181.192.465đ. Hội đồng xét xử xét thấy, căn cứ vào Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì khi các bên ký kết hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về lãi suất, nên Ngân hàng yêu cầu ông K, bà R phải chịu lãi suất theo hợp đồng tín dụng (lãi trong hạn và quá hạn) mà các bên đã ký kết là phù hợp với quy định của pháp luật.

[4] Xét yêu cầu Ngâng hàng TMCP Kiên Long yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thổ cư + LNK, hoang, 2 lúa (Tổng diện tích 16.200m²) đất tọa lạc tại ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang, thuộc tờ bản đồ số 6, thửa đất số 763, 761, 760, 762 theo giấy chứng nhận QSD đất số A 824299 do UBND huyện T cấp ngày 26/7/1992 đứng tên ông Nguyễn Văn K.

Xét thấy Hợp đồng thế chấp số QH0054/HĐTC, ngày 15/12/2011 là quyền sử dụng đất trên được các bên ký kết và công chứng, chứng thực là đúng quy định tại Điều 343 Bộ luật dân sự năm 2005 về “Hình thức thế chấp tài sản”, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013 về “quyền thế chấp quyền sử dụng đất” và Điều 168 Luật Đất đai năm 2013 về “ Thời điểm thực hiện các quyền của người sử dụng đất”. Do đó thoả

thuận trong Hợp đồng thế chấp tài sản đã ký giữa các bên có hiệu lực pháp luật để thi hành. Yêu cầu của phía nguyên đơn đề nghị được xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp phía bị đơn không trả được các khoản nợ là có căn cứ để chấp nhận.

[5] Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1.

- Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 được chấp nhận nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 không phải chịu án phí,

Buộc ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R phải nộp án phí là.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 91, Điều 146, Điều 147, Điều 175, Điều 177, Điều 179, Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);

- Căn cứ Điều 9, Điều 25 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 về việc tranh chấp Hợp đồng tín dụng đối với ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R.

2. Buộc ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 14/6/2024 là 613.841.583đ. Trong đó: Vốn gốc: 5.000.000đ; Tiền lãi trong hạn: 22.054.333đ; Tiền lãi quá hạn: 586.787.250₫

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng Tín dụng số QH0054.2/HĐTD, ngày 21/6/2012 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 và ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R.

Ngân hàng TMCP K1 có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự phát mãi

tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất theo hợp đồng thế chấp số QH0054/HĐTC, ngày 15/12/2011 theo quy định của pháp luật.

Trường hợp, vợ chồng ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng TMCP K1 thì Ngân hàng TMCP K1 có trách nhiệm trả lại bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số A 824299 do UBND huyện T cấp ngày 26/7/1992 đứng tên ông Nguyễn Văn K

3. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: ông Nguyễn Văn K, bà Nguyễn Thị R nộp án phí là: 28.553.663đ. Nhưng do ông K, bà R là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên ông bà không phải nộp.

Trả lại tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần K1 số tiền 18.036.000đ (Mười tám triệu không trăm ba mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000494, ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K, Nguyễn Thị R vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Tân Hiệp;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hiệp;
  • - Lưu VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Đạo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DSST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 26/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP Kiên Long yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn Kỳ và bà Nguyễn Thị Râng phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP Kiên Long số tiền là 802.402.111 đồng (Tám trăm lẻ hai triệu bốn trăm lẻ hai ngàn một trăm mười một đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/8/2023 theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số QH0054/HĐTD ngày 21/6/2012 cho đến ngày thanh toán dứt nợ. Trường hợp ông Kỳ, bà Râng không trả hoặc trả không dứt nợ thì Ngân hàng yêu cầu được kê biên, phát mãi tài sản thế chấp của ông Kỳ, bà Râng để thu hồi nợ.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger