|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST
Ngày 14-5-2024
"Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Vi Thanh Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nam và ông Nguyễn Văn Bẩy
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Ngô Thị Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Nhàn – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 224/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M; nơi thường trú: khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Kiên C; nơi thường trú: khu Y, phường Y, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn trình bày:
Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Kiên C cùng tự nguyện đăng ký kết hôn năm 2022 tại UBND phường Y, thị xã Đ, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại khu Y, phường Y, thị xã Đ. Trong cuộc sống vợ chồng, chị M nhận thấy không có hạnh phúc, luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã, từ tháng 9/2023 chị M và anh C đã sống ly thân. Nay tình cảm giữa chị M và anh C không còn nên chị M yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Kiên C và yêu cầu Tòa án giao con chung là Nguyễn Đình Vinh Q, sinh ngày 07/9/2022 cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị M không yêu cầu anh C phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tại phiên tòa, do con chung hiện đang ở cùng với anh C nên để ổn định cuộc sống cho con chung, vì vậy chị M đồng ý để anh C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị M không phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Vợ chồng chị M có 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29H-285.25, chiếc xe này sau khi vợ chồng ly thân, anh C là người quản lý sử dụng, nay anh C đã bán chiếc xe này với giá 92.000.000 đồng và đang quản lý số tiền này. Chị M yêu cầu chia khoản tiền trên, mỗi người được 46.000.000 đồng. Đối với yêu cầu của anh C về số tiền 260.000.000 đồng trong tài khoản của chị M tại Ngân hàng, chị M không đồng ý, vì thực tế không có số tiền như anh C yêu cầu, số tiền chung của vợ chồng đã sử dụng chi tiêu cho gia đình khi chị M và anh C còn chung sống.
Tại đơn yêu cầu phản tố, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị đơn anh Nguyễn Kiên C trình bày:
Anh C và chị Nguyễn Thị M cùng tự nguyễn kết hôn như chị M trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng, do bất đồng quan điểm nên thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống vợ chồng không có tình cảm nên tháng 9/2023 vợ chồng đã ly thân, mỗi người ở một nơi và không còn quan tâm với nhau. Nay chị M yêu cầu ly hôn, anh C cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh C và chị M có 01 con chung là Nguyễn Đình Vinh Q, sinh ngày 07/9/2022, anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Anh C và chị M có 01 chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29H-285.25, chiếc xe này anh C đã bán được 92.000.000 đồng, số tiền này anh C vẫn đang quản lý. Ngoài ra, còn số tiền 260.000.000 đồng trong tài khoản số 0341007122058 của chị M tại Ngân hàng V và tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1. Anh cường yêu cầu chia mỗi người ½ số tiền trên.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Kiên C xin rút yêu cầu chia số tiền 260.000.000 đồng trong tài khoản số 0341007122058 tại Ngân hàng V và tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1 của chị M.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, những người tham gia tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã thực hiện quy định tại Điều 196, 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa cơ bản tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, giao con chung cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn 46.000.000 đồng tiền chia tài sản chung. Đình chỉ giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn có nơi thường trú tại phường Y, thị xã Đ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Kiên C kết hôn hợp pháp từ ngày 14/02/2022. Trong quá trình chung sống, do không có cùng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, cuộc sống chung không có tình cảm nên chị M và anh C đã sống ly thân mỗi người ở một nơi từ tháng 9/2023 cho đến nay, kể từ khi ly thân, chị M và anh C không còn quan tâm với nhau. Nay cả chị M và anh C đều xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không khắc phục được nên đều thống nhất ly hôn. Xét yêu cầu của chị M là phù hợp với Điều 55, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.
Về con chung: chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Kiên C có 01 con chung là Nguyễn Đình Vinh Q, sinh ngày 07/9/2022. Tại phiên tòa, chị M và anh C đều thống nhất để anh C được trực tiếp nuôi con chung, chị M không phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do đó, chấp nhận yêu cầu của chị M, giao cho anh C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Đình Vinh Q cho đến khi thành niên. Chị M không phải cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Kiên C có tài sản chung là số tiền bán xe ô tô là 92.000.000 đồng do anh C đang quản lý. Khoản tiền này cả chị M và anh C đều thừa nhận và đều có yêu cầu chia mỗi người được hưởng ½ số tiền này. Do đó, chấp nhận yêu cầu chia tài sản của chị M, anh C có trách nhiệm thanh toán cho chị M 46.000.000 đồng.
Ngoài ra, theo yêu cầu của anh C thì vợ chồng còn số tiền 260.000.000 đồng trong tài khoản số 0341007122058 tại Ngân hàng V và tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1 của chị M. Tại phiên tòa, anh C tự nguyện rút yêu cầu chia số tiền này nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của anh C.
[3] Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng và chịu án phí chia tài sản chung đối với phần được chia là 2.300.000 đồng. Tổng số tiền chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.600.000 đồng.
- Anh Nguyễn Kiên C phải chịu án phí chia tài sản chung đối với phần được chia là 2.300.000 đồng. Tại phiên tòa, anh C rút yêu cầu phản tố, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu này nên trả lại anh C số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: các Điều 55, 56, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 218, khoản 2 Điều 244, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị M về ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn anh Nguyễn Kiên C.
- Về con chung: giao anh Nguyễn Kiên C được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Đình Vinh Q, sinh ngày 07/9/2022 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng cho con. Chị M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Anh C cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về tài sản chung: Anh Nguyễn Kiên C và chị Nguyễn Thị M, mỗi người được hưởng số tiền là 46.000.000 (bốn mươi sáu triệu đồng). Anh C có trách nhiệm thanh toán cho chị M số tiền 46.000.000đ (bốn mươi sáu triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của chị Nguyễn Thị M đối với khoản tiền trên cho đến khi thi hành án xong, anh Nguyễn Kiên C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
-
Đình chỉ yêu cầu của anh Nguyễn Kiên C về việc chia tài sản chung với số tiền là 260.000.000đ (hai trăm sáu mươi triệu đồng) trong tài khoản số 0341007122058 tại Ngân hàng V và tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Q1 của chị Nguyễn Thị M.
Anh Nguyễn Kiên C có quyền khởi kiện lại yêu cầu này.
-
Về án phí:
Chị Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.600.000đ (hai triệu sáu trăm nghìn đồng), nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp là 3.050.000đ (ba triệu không trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003354 ngày 16/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều. Trả lại cho chị Nguyễn Thị M 450.000đ (bốn trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Anh Nguyễn Kiên C phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.300.000đ (hai triệu ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí anh C đã nộp là 6.500.000đ (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0003441 ngày 03/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Triều. Trả lại cho anh Nguyễn Kiên C 4.200.000đ (bốn triệu hai trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp.
-
Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Vi Thanh Hà |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
