|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 14-5-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Sáng và bà Đặng Thị Hương
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Mai Phi Hùng - Kiểm sát viên
Ngày 14 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/ 2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 07/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 và Thông báo dời ngày xét xử vụ án số 12/2024/HSST-TB ngày 17 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Vương Phú K, sinh năm 1987 tại: Bình Phước; nơi đăng ký HKTT: thôn C, P, huyện B, tỉnh Bình Phước; chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Khánh T và bà Võ Thị H; có vợ là Nguyễn Thu H1 (đã ly hôn) và có ba người con, lớn nhất sinh năm 2009 và nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm 1977 (đã chết)
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Công H2, sinh năm 1964 “có mặt”
Nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: ông Phạm Văn T1, sinh năm 1976 – Luật sư của Công ty L, thuộc đoàn Luật sư thành phố H “có mặt”
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Anh Lê Công H3, sinh năm 1996 (bị bệnh câm, điếc bẩm sinh) “có mặt”
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Công H2, sinh năm 1964 “có mặt”
Nơi cư trú: thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
Người phiên dịch cho anh H3: Bà Nguyễn Thị Hồng S – giáo viên dạy trẻ khuyết tật Trung tâm G “vắng mặt”
Nơi cư trú: B43, KP . B, phường L, TP ., tỉnh Bình Dương
- Ông Ngô Văn P, sinh năm 1978 “vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt”
Nơi cư trú: thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Bà Lê Thị Thanh P1, sinh năm 1985 “vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt”
Nơi cư trú: thôn K, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Ông Võ Tấn H4, sinh năm 1983 “vắng mặt”
Nơi cư trú: thôn Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
- Ông Nguyễn Đình H5, sinh năm 1987 “vắng mặt”
Nơi cư trú: KP C, phường P, TX. P, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vương Phú K là người đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm³ đến 175cm³. Sau khi đã uống bia (có nồng độ cồn 0,100 mg/l khí thở) thì khoảng 21 giờ 20 phút ngày 02/02/2021, K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-034.59 lưu thông trên đường Đ theo hướng từ thị xã P đi xã Đ, huyện B. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 741 và đường vào Trung tâm Hành chính huyện B tại thôn K, xã P, huyện B thì K thấy đèn giao thông đã chuyển sang đèn vàng nhấp nháy nhưng không giảm tốc độ để bảo đảm an toàn mà vẫn giữ tốc độ điều khiển xe qua ngã tư, khi đến giữa ngã tư xe mô tô của K đâm vào xe mô tô biển số 93H1-320.20 do Hoàng Thị K2 điều khiển chở theo phía sau con trai Lê Công H3 lưu thông từ hướng Trung tâm hành chính huyện B ra hướng ngã tư giao nhau với đường ĐT 741. Hậu quả, K và K2 bị thương nặng và được người dân đưa đi cấp cứu, còn Lê Công H3 không bị thương tích gì. Đến ngày 03/02/2021 thì Hoàng Thị K2 tử vong.
Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra đã phối hợp với Cảnh sát giao thông, Viện KSND huyện B đã tiến hành đo nồng độ cồn và khám nghiệm hiện trường, xác định:
Đoạn đường xảy ra tai nạn rải nhựa, đường phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế. Hiện trường không còn nguyên vẹn do người, phương tiện qua lại, người bị nạn được đưa đi cấp cứu. Đoạn đường xảy ra tai nạn nằm ở ngã tư G giữa đường Đ với đường Trung tâm hành chính huyện B và đường đi vào Huyện đội Bù Gia M. Đường ĐT 741 là đường hai chiều được phân chia bằng dải phân cách cứng, đường thẳng, tổng mặt đường rộng 23,70m, mỗi chiều đường được phân chia bằng vạch kẻ phân làn đường (nét đứt quảng), đường một chiều (chiều đường) theo hướng từ thị xã P đi đến xã Đ rộng 10,20m, làn đường dành cho xe ô tô con rộng 3,88m, làn đường dành cho xe ô tô tải, mô tô hai, ba bánh rộng 6,32m. Trước ngã tư giao lộ hướng từ thị xã P đi đến xã Đ có gắn một biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường ưu tiên và đường không ưu tiên (W.207). Khoảng cách giữa hai tâm đầu dải phân cách nơi xảy ra tai nạn là 50m. Đường đi vào Trung tâm hành chính huyện: Đường thẳng, là đường hai chiều được phân chia bằng vạch kẻ đường (nét liền), mặt đường rộng 24,60m. Đường đi vào Huyện đội Bù Gia M: Đường thắng là đường hai chiều được phân chia bằng dải phân cách cứng, mặt đường nhựa rộng 25.50m. Giao diện giữa đường ĐT 741 với đường Trung tâm hành chính huyện rộng 46,40m.
Lấy điểm mốc là điểm A nằm trên cột điện số 289P nằm ở bên phải đường nhựa theo hướng từ thị xã P đi đến xã Đ, điểm A cách mặt đất 0,50m và lấy mép phải đường nhựa theo hướng từ thị xã P đi đến xã Đ làm chuẩn. Điểm mốc cách mép đường làm chuẩn là 2,64m.
Trong quá trình khám nghiệm phát hiện những vị trí phương tiện, dấu vết được cho số thứ tự và mô tả như sau:
- - Số (1) là vết cày của xe mô tô biển số 93HI – 320.20 nằm ở phần đường nhựa ngay ngã tư giao lộ là vết cày không liên tục, dài 11,38m. Đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn là 6,50m; Đầu vết cày cách đầu vết cày số (2) là 2,33m, đầu vết cày cách tâm giao diện giữa đường ĐT 741 với đường Trung tâm hành chính huyện là 10,60m. Đầu vết cày cách biển báo hiệu số W207a là 73,98m, đầu vết cày cách điểm mốc là 16,70m. Cuối vết cày trùng với gác để chân sau bên phải của xe mô tô biển số 93H1 – 320.20, cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn là 12,57m.
- - Số (2) là vết cày của xe mô tô biển số 93H1 – 034.59 nằm ở phần đường nhựa thuộc ngã tư giao lộ; vết cày không liên tục, dài 7,60m. Đầu vết cày cách mép đường làm chuẩn là 7,05m, đầu vết cày cách đầu vết chà của nạn nhân số (3) là 5,30m. Cuối vết cày trùng với gác để chân trước bên phải của xe mô tô biển số 93H1 – 034.59 (số D), cuối vết cày cách mép đường làm chuẩn là 8,50m.
- - Số (3) là vết chà của nạn nhân nằm ở phần đường nhựa thuộc ngã tư giao lộ; vết chà liên tục, có dính máu và một vài sợi tóc màu đen, dài 6,40m, đoạn hẹp nhất rộng 0,25m, đoạn rộng nhất là 0,66m. T2 đầu vết chà cách mép đường làm chuẩn là 9,90m; T2 đầu vết chà cách đầu trục trước bên phải xe mô tô biển số 93H1 – 034.59 (số D) là 2,65m. T2 cuối vết chà cách mép đường làm chuẩn là 13,38m.
- - Số (4) là xe mô tô biển số 93H1 – 034.59 nằm ở phần đường nhựa thuộc ngã tư giao lộ. Xe mô tô nằm ngã về bên phải, đầu xe mô tô hướng về thị xã P, đuôi xe mô tô hướng về xã Đ. Hai phuộc nhún trước và bánh xe trước bị gãy khỏi vị trí ban đầu. Đầu trục trước bên phải xe mô tô cách mép đường làm chuẩn là 8,40m, cách chảng ba xe mô tô (số D) là 0,41m. Chảng ba xe mô tô (số D) cách mép đường làm chuẩn là 8,71m, cách đầu trục sau bên trái xe mô tô biển số 93H1 – 320.20 (số F) là 3,40m. Đầu trục sau bên trái xe mô tô cách mép đường làm chuẩn là 8,74m, cách tâm vết máu (số E) là 0,90m và cách điểm mốc là 12m.
- - Số (5) là vết máu thứ nhất của nạn nhân nằm ở phần đường nhựa thuộc ngã tư giao lộ. Vết máu loang có dính nhiều sợi tóc màu đen, không rõ hình dạng có kích thước 0,74 x 0,33m. T2 vết máu cách mép đường làm chuẩn là 9,72m và cách đầu trục trước bên trái xe mô tô biển số 93H1 – 320.20 (số F) là 3,15m.
- - Số (6) là xe mô tô biển số 93H1 – 320.20 nằm ở phần đường nhựa thuộc ngã tư giao lộ. Xe mô tô nằm ngã về bên phải, đầu mô tô hướng về xã Đ, đuôi mô tô hướng về thị xã P. Đầu trục sau bên trái mô tô cách mép đường làm chuẩn là 12,62m. Đầu trục trước bên trái mô tô cách mép đường làm chuẩn là 12,76m, cách tâm vết máu (số G) là 2,48m và cách tâm đầu giải phân cách theo hướng từ thị xã P đi đến xã Đ là 6,37m.
- - Số (7) là vết máu thứ hai của nạn nhân nằm ở phần đường nhựa thuộc ngã tư giao lộ. Vết máu loang, không rõ hình dạng, có kích thước (0,85 x 0,80)m. T2 vết máu cách mép đường làm chuẩn là 13,90m.
Qua khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-034.59; xe mô tô biển số 93H1-320.20; 01 file video tên 7042178824237991587.mp4 dung lượng 6,767 kb, thời lượng 01 phút 14 giây; 01 file video tên A02-20210622201300.mp4, dung lượng 8,532kb, thời lượng 07 phút 32 giây để phục vụ công tác điều tra.
Tại bản Kết luận giám định pháp y về tử thi số 68 ngày 05/02/2021 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: Hoàng Thị K2, sinh năm: 1977 bị chấn thương sọ não gây vỡ xương hộp sọ, tụ máu nội sọ, hôn mê sâu không hồi phục dẫn đến tử vong.
Theo kết luận số 05 ngày 15/02/2022 của Phòng K3 Công an tỉnh B kết luận: Vận tốc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-034.59 trước khi xảy ra tai nạn giao thông là từ 76km/h đến 80km/h.
Tại Bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Vương Phú K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vương Phú K như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự với mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo; đồng thời trình bày về việc xử lý vật chứng và phần trách nhiệm dân sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trình bày:
Bị cáo Vương Phú K đã khai nhận: khoảng 21 giờ 20 phút ngày 02/02/2021, bị cáo điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 93H1-034.59 lưu thông trên đường Đ theo hướng từ thị xã P đi xã Đ, huyện B. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 741 và đường vào Trung tâm Hành chính huyện B tại thôn K, xã P, huyện B thì bị cáo thấy đèn giao thông đã chuyển sang đèn vàng nhấp nháy, nhưng bị cáo không giảm tốc độ để bảo đảm an toàn mà vẫn giữ tốc độ điều khiển xe qua ngã tư, khi đến giữa ngã tư xe mô tô của bị cáo đâm vào xe mô tô biển số 93H1-320.20 do bà Hoàng Thị K2 điều khiển hậu quả, bị cáo bị thương nặng, còn bà K2 tử vong. Nay bị cáo đã nhận thức hành vi điều khiển phương tiện giao thông cẩu thả, không giảm tốc độ, không đảm bảo khoảng cách an toàn dẫn đến hậu quả làm chết người là vi phạm pháp luật, nay bị cáo xin được xử mức án nhẹ để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm người tốt hơn.
Người đại diện hợp pháp của bị hại – ông Lê Công H2 trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án gia đình ông đã nhận đầy đủ số tiền bồi thường thiệt hại của bị cáo, ông đã viết đơn bãi nại cho bị cáo và nay ông không đề nghị bị cáo K phải bồi thường thiệt hại gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi; kết luận giám định pháp y; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Vương Phú K là người đủ điều kiện để điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50cm³ đến 175cm³· Khoảng 21 giờ 20 ngày 02/02/2021, sau khi đã uống bia xong, K vẫn điều khiển xe nhãn hiệu Yamaha Sirius biển số 93H1-034.59 lưu thông trên đường Đ theo hướng từ thị xã P đi xã Đ, huyện B. Khi đến đoạn ngã tư giao nhau giữa đường ĐT 741 và đường vào Trung tâm Hành chính huyện B tại thôn K, xã P, huyện B thì K thấy đèn giao thông đã chuyển sang đèn vàng nhấp nháy nhưng bị cáo không giảm tốc độ để đảm bảo an toàn mà vẫn giữ tốc độ điều khiển xe qua ngã tư thì đâm vào xe mô tô biển số 93H1-320.20 do Hoàng Thị K2 điều khiển chở theo Lê Công H3 lưu thông từ hướng Trung tâm hành chính huyện B ra hướng ngã tư giao nhau với đường ĐT 741. Hành vi của K đã vi khoản 1 Điều 9 và điểm c khoản 3 Điều 10, Điều 12 Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm chết người.
- Đối chiếu với hành vi nêu trên của bị cáo so với những quy định của pháp luật thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập truy tố bị cáo Vương Phú K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.
- [3] Tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của bị hại.
- Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý vì cẩu thả, bị cáo nhận thức được việc điều khiển xe mô tô khi bản thân đã uống bia và không giảm tốc độ để quan sát các phương tiện giao thông khác khi đèn giao thông chớp vàng có thể gây nguy hiểm cho chính bị cáo và những người tham gia giao thông khác cùng đi trên đường, nhưng bị cáo lại tự tin rằng tai nạn giao thông sẽ không xảy ra nên cẩu thả điều khiển xe làm va chạm bị hại, hậu quả làm bị hại chết.
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.
- Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo cần xem xét: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo là phù hợp với quy định pháp luật. Xét bị cáo lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có khả năng tự cải tạo nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- Đ điện Viện kiểm sát đề nghị xử lý tang vật và không áp dụng hình phạt bổ sung là phù hợp với quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- [4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, xem xét bị cáo có công việc chính là làm nông để tạo thu nhập trong gia đình. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô biển số 93H1-034.59 là của Vương Phú K, ngày 22/4/2022 Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho K, hiện nay K khai đã bán xe lại cho người khác không rõ nhân thân lai lịch, hiện không thu hồi được nên không có cơ sở để xử lý.
- Đối với xe mô tô biển số 93H1-320.20 là của bà Hoàng Thị K2, do đó cần trả lại xe cho ông Lê Công H2 (chồng bà K2).
- [6] Về trách nhiệm dân sự:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Lê Công H2 yêu cầu bị cáo K bồi thường thiệt hại cho ông tổng số tiền 420.000.000 đồng. Tuy nhiên trước khi tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án, giữa ông H2 và bị cáo đã thống nhất thoả thuận: bị cáo K có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho ông H2 tổng cộng 120.000.000 đồng, ông H2 không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó vào ngày 14/5/2024 bị cáo đã tiến hành bồi thường cho ông H2 số tiền 120.000.000 đồng, gồm: chuyển khoản ngân hàng số tiền 105.000.000 đồng và ông H2 được nhận lại số tiền 15.000.000 đồng bị cáo K giao nộp để bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập. Như vậy, bị cáo đã bồi thường thiệt hại xong, do đó Hội đồng xét xử không giải quyết lại.
- [7] Đối với bà Hoàng Thị K2 điều khiển xe mô tô đến ngã tư giao nhau từ đường không ưu tiên ra đường ưu tiên, có tín hiệu giao thông đèn chớp vàng nhưng không nhường đường cho xe của K đang lưu thông trên đường ưu tiên. Hành vi của bà K2 đã vi phạm khoản 1 Điều 9; điểm c khoản 3 Điều 10; khoản 3 Điều 24 Luật giao thông đường bộ và khoản 1 Điều 5 Thông tư số: 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Tuy nhiên, K2 đã chết nên không đề cập đến việc xử lý.
- [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định của pháp luật.
- Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 260, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015.
Căn cứ khoản 1 Điều 9 và điểm c khoản 3 Điều 10, Điều 12 Luật giao thông đường bộ năm 2008
- Tuyên bố bị cáo Vương Phú K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 590 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Xử phạt bị cáo Vương Phú K 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo K cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì áp dụng theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trả lại cho ông Lê Công H2 01 xe mô tô biển số 93H1-320.20.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 0008866 ngày 23/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập)
Ông Lê Công H2 được nhận số tiền bị cáo K bồi thường thiệt hại là 15.000.000 đồng nộp tại Biên lai thu tiền số 0002689 ngày 30/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập.
Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.)
|
Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND H. Bù Gia Mập; - Chi cục THADS H. Bù Gia Mập; - Bị cáo; Người ĐDHP của bị hại; - Lưu HSVA;TA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải Ly |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
