TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 26/2024/DS-ST Ngày: 12-7-2024 “V/v: tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc — |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Vui
- Bà Trần Xuân Đạm
- Thư ký phiên tòa:
Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:
Ông Cao Thanh Nam - Kiểm sát viên
Vào ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 225/2023/TLST – DS ngày 20 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐDST-DS ngày 28/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N (gọi tắt là Ngân hàng)
Địa chỉ: Số B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V – Tổng Giám đốc Ngân hàng N
Người đại diện theo ủy quyền thường xuyên: Ông Đinh Lệnh Q – Giám đốc Ngân hàng N – Chi nhánh huyện L, Tây B
Người đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Lệnh Q: Ông Ngô Thanh S – Phó giám đốc Phòng G thuộc Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L, Tây B (Có mặt)
Nơi làm việc: Trụ sở Phòng G – Địa chỉ: Quốc lộ A, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước
(Văn bản ủy quyền số 18 ngày 12/10/2024).
Bị đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1978 (vắng mặt tại phiên toà)
Địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
1
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Văn Đ, sinh năm 1970 (có mặt)
- Ông Lê Văn T1, sinh năm 1973 (vắng mặt)
- Bà Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1980 (vắng mặt)
- Ông Lê Minh T2, sinh năm 1982 (có mặt)
Cùng địa chỉ: ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 10 năm 2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Ngô Thanh S trình bày:
Vào ngày 22/7/2022, Ngân hàng N (gọi tắt là Ngân hàng) cho bà Lê Thị T vay tiền theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV201903463 ký ngày 24/7/2019 giữa Ngân hàng và bà Lê Thị T, số tiền cho vay là 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng), Lãi suất vay theo Hợp đồng tín dụng là 10%/năm. Bà T có thế chấp tài sản là: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1. Mục đích vay tiền để sản xuất kinh doanh. Trong quá trình vay bà T đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 14.600.000 đồng và toàn bộ tiền lãi đến ngày 11/7/2024. Nay ngân hàng yêu cầu bà T trả số tiền gốc còn lại là 55.400.000 đồng, yêu cầu bà T tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 12/7/2024 cho đến khi bà T trả hết nợ cho Ngân hàng.
Đồng thời yêu cầu Tòa án công nhận các Hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà T. Tài sản thế chấp: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1.
* Tại biên bản lấy lời khai, bị đơn bà Lê Thị T trình bày:
Bà T đồng ý trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi theo yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và không có ý kiến gì về việc Ngân hàng yêu cầu trả nợ. Đồng thời đồng ý công nhận các Hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà T để đảm bảo thu hồi nợ. Tài sản thế chấp: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1.
* Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên toà, người có quyền ông Lê Văn Đ trình bày: Ông Đ không có ý kiến gì đối với việc Ngân hàng yêu cầu bà T trả nợ. Ông Đ đồng ý công nhận các Hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà T để đảm bảo thu hồi nợ. Tài sản thế chấp: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1.
* Tại biên bản lấy lời khai và tại phiên toà, người có quyền ông Lê Minh T2
2
trình bày: Ông T2 không có ý kiến gì đối với việc Ngân hàng yêu cầu bà T trả nợ. Ông T2 đồng ý công nhận các Hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà T để đảm bảo thu hồi nợ. Tài sản thế chấp: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 và bà Lê Thị Cẩm L: Ông Lê Văn T1 và bà Lê Thị Cẩm L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Toà án tiến hành xét xử vắng mặt ông T1 và bà L.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa kể từ ngày thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của đương sự là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N:
- - Buộc bà Lê Thị T trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 55.400.000 đồng (năm mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).
- - Buộc bà Lê Thị T tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5604LAV201805723, kể từ ngày 12/7/2024 cho đến ngày thực tế bà Lê Thị T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên có nghĩa vụ thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- - Công nhận hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà Lê Thị T. Tài sản thế chấp là: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1. Trường hợp bà Lê Thị T không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản để thu hồi nợ
- Về chi phí tố tụng và án phí: Bà Lê Thị T phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
3
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật trong vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự
[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng để bị đơn bà Lê Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1, bà Lê Thị Cẩm L tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên tòa lần thứ hai mà không có lý do. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu bà Lê Thị T trả tiền gốc là 55.400.000 đồng:
Căn cứ hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng và bà Lê Thị T, lời khai của bà Lê Thị T và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Vào ngày 22/7/2022, Ngân hàng N (do Phòng G - Chi nhánh huyện L xác lập giao dịch) cho bà Lê Thị T vay số tiền 70.000.000 đồng, theo Hợp đồng tín dụng số 5604LAV201903463 ký ngày 24/7/2019, thời hạn vay 12 tháng, lãi suất cho vay 10%/năm (Lãi suất điều chỉnh), lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay.
Quá trình thực hiện hợp đồng, bà T đã vi phạm thời hạn trả nợ. Vào ngày 11/7/2024, bà Lê Thị T đã trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 14.600.000 đồng và toàn bộ tiền lãi tính đến ngày 11/7/2024, bà T còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 55.400.000 đồng. Do đó Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện yêu cầu bà T trả số tiền gốc là 14.600.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 11/7/2024. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị T trả cho Ngân hàng N tổng số tiền gốc là 55.400.000 đồng, đồng thời yêu cầu trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 12/7/2024 là phù hợp và có căn cứ.
[2] Xét yêu cầu công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà T để đảm bảo thu hồi nợ. Tài sản thế chấp: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1.
Về hình thức hợp đồng thế chấp tài sản: Hợp đồng được thành lập bằng văn bản, đã được Công chứng và đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016.
Về nội dung hợp đồng thế chấp tài sản: Hợp đồng thế chấp tài sản được ký kết giữa Ngân hàng và bà Lê Thị T. Trước khi bà T ký kết hợp đồng thế chấp tài
4
sản với Ngân hàng, bà Lê Thị L1 và các thành viên trong hộ gia đình bà Lê Thị L1 đã ủy quyền cho bà Lê Thị T. Hợp đồng thế chấp thể hiện sự tự nguyện của các bên khi tham gia ký kết. Tài sản thế chấp hiện vẫn còn tồn tại như đã được thể hiện tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/5/2024.
Từ những phân tích trên, có đủ căn cứ xác định Hợp đồng thế chấp tài sản đã đảm bảo đúng về hình thức và nội dung. Do đó, cần công nhận Hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà T để đảm bảo thu hồi nợ. Tài sản thế chấp: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1.
[3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng). Số tiền này Ngân hàng đã nộp tạm ứng. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Lê Thị T phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí, cụ thể là: Đối với yêu cầu trả tiền gốc và tiền lãi: Bà Lê Thị T phải chịu án phí là 2.770.000 đồng (Hai triệu bảy trăm bảy mươi ngàn đồng). Đối với yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp tài sản: Bà Lê Thị T phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng).
Như vậy, tổng số tiền án phí mà bà T phải chịu là 3.070.000 đồng (ba triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng).
Ngân hàng N không phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh trả lại cho Ngân hàng số tiền 2.291.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010906 ngày 20/12/2023.
[5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228; Điều 147; Điều 157 và Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Điều 317; Điều 318; Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322 và Điều 323 Bộ luật dân sự.
- - Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Thông tư liên tịch số 09/2016/TTLT-BTP-BTNMT ngày 23/6/2016.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
5
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, cụ thể:
- - Buộc bà Lê Thị T trả cho Ngân hàng số tiền gốc là 55.400.000 đồng (năm mươi lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).
- - Buộc bà Lê Thị T tiếp tục trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 5604LAV201903463, kể từ ngày 12/7/2024 cho đến ngày thực tế bà Lê Thị T trả hết nợ gốc cho Ngân hàng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà bên có nghĩa vụ thi hành án phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- - Công nhận hợp đồng thế chấp tài sản số 186N/2019 ngày 24/7/20219 giữa Ngân hàng N và bà Lê Thị T. Tài sản thế chấp là: 01 thửa đất có diện tích 6315 m² thuộc thửa số 143, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00253 ngày 13/4/2011 đứng tên hộ bà Lê Thị L1. Trường hợp bà Lê Thị T không trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản để thu hồi nợ.
2/ Về chi phí tố tụng: Bà Lê Thị T hoàn trả cho Ngân hàng N số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Lê Thị T phải chịu là 3.070.000 đồng (ba triệu không trăm bảy mươi ngàn đồng).
- - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh trả lại cho Ngân hàng N số tiền 2.291.000 đồng (Hai triệu hai trăm chín mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0010906 ngày 20/12/2023.
4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
“Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Thị Oanh |
6
7
8
Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 26/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng N tranh chấp Hợp đồng tín dụng với bà Lê Thị T
