Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/KDTM-ST

Ngày 11-6-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua

bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thảo.

Ông Nguyễn Thanh Cần.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Võ Anh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 80/2024/TLST-KDTM ngày 07 tháng 5 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST–KDTM ngày 23 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH B; địa chỉ trụ sở: thửa đất số 170, tờ bản đồ số 7, tổ H, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: bà Vy Kim H, chức vụ: Giám đốc

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Thái Thị N, sinh năm 1991 và bà Trần Thị T, sinh năm 1995. Cùng địa chỉ liên hệ: số H, đường N, khu phố B, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; số điện thoại: 0933.276.xxx, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 22/4/2024). Bà N có mặt, bà T vắng mặt.

- Bị đơn: Công ty TNHH S; địa chỉ trụ sở: số A, đường U, khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn V, chức vụ: Giám đốc.

2

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: ông Liu G, sinh năm 1972, quốc tịch: Trung Quốc – chức vụ: Phó Giám đốc điều hành của công ty; địa chỉ: số A, đường U, khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 15/8/2023). Có mặt.

Người phiên dịch: bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1982; địa chỉ: khu B, ấp B, xã B, huyện V, tỉnh Đồng Nai; là nhân viên kế toán của công ty TNHH S. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Trong năm 2022 và 2023, Công ty TNHH B (sau đây viết tắt là Công ty B) bán hàng hóa là nhựa polyol nguyên sinh, nhựa polymethylene dạng nguyên sinh và sản phẩm hóa chất các loại cho Công ty TNHH S (sau đây viết tắt là Công ty S).

Việc mua bán không ký hợp đồng mà chỉ căn cứ vào từng đơn đặt hàng của bên mua, thanh toán tiền hàng sau khi xuất hoá đơn. Sau khi giao hàng theo đơn hàng của Công ty S, Công ty B đã gửi bảng chi tiết công nợ và xuất hóa đơn đầy đủ cho Công ty B, cụ thể:

STT Ngày Số hóa đơn Số tiền ghi trên Hoá đơn (đã bao gồm thuế suất GTGT)
126/8/202255856.372.000
228/9/202267728.693.900
328/10/202279419.496.000
429/11/202295359.238.000
527/12/2022111366.212.000
628/2/202315512.490.000
730/3/202324250.910.000
828/4/202335514.514.000
931/5/202350289.476.000
1028/6/202359125.455.000
1129/7/202374249.755.000
1226/8/202378243.320.000
1328/9/202395124.410.000

3

Tổng tiền hàng theo các hoá đơn nói trên là 5.040.341.900 đồng. Công ty S đã thanh toán được số tiền hàng 402.672.000 đồng và ngừng thanh toán cho đến nay. Hiện Công ty S còn nợ Công ty B số tiền 4.637.669.900 đồng.

Do đó, Công ty B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc Công ty S thanh toán cho Công ty B tổng số tiền là 5.369.571.536 đồng, bao gồm:

- Tiền nợ gốc: 4.637.669.900 đồng.

- Tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán tính đến hết tháng 05/2024 với lãi suất 1%/tháng như sau:

+ Hoá đơn số 55 ngày 26/8/2022: 453.751.173 đồng (đã thanh toán 402.620.827 đồng, còn 453.751.173 đồng) x 1% x 21 tháng = 95.287.746 đồng;

+ Hoá đơn số 67 ngày 28/9/2022: 728.693.900 đồng x 1% x 20 tháng = 145.738.780 đồng;

+ Hoá đơn số 79 ngày 28/10/2022: 419.496.000 đồng x 1% x 19 tháng = 79.704.240 đồng;

+ Hoá đơn số 95 ngày 29/11/2022: 359.238.000 đồng x 1% x 18 tháng = 64.662.840 đồng;

+ Hoá đơn số 111 ngày 27/12/2022: 366.212.000 đồng x 1% x 17 tháng = 62.256.040 đồng;

+ Hoá đơn số 15 ngày 28/2/2023: 512.490.000 đồng x 1% x 15 tháng = 76.873.500 đồng;

+ Hoá đơn số 24 ngày 30/3/2023: 250.910.000 x 1% x 14 tháng = 35.127.400 đồng;

+ Hoá đơn số 35 ngày 28/4/2023: 514.514.000) x 1% x 13 tháng = 66.886.820 đồng;

+ Hoá đơn số 50 ngày 31/5/2023: 289.476.000 x 1% x 12 tháng = 34.737.120 đồng;

+ Hoá đơn số 59 ngày 28/6/2023: 125.455.000 x 1% x 11 tháng = 13.800.050 đồng;

+ Hoá đơn số 74 ngày 29/7/2023: 249.755.000 x 1% x 10 tháng = 24.975.500 đồng;

+ Hoá đơn số 78 ngày 26/8/2023: 243.320.000 x 1% x 09 tháng = 21.898.800 đồng;

+ Hoá đơn số 95 ngày 28/9/2023: 124.410.000 x 1% x 08 tháng = 9.952.800 đồng.

4

Tổng số tiền lãi là 731.901.636 đồng. (Lãi suất sẽ được tiếp tục tính cho tới khi Công ty S hoàn thành nghĩa vụ thanh toán).

Ngày 30/5/2024, Công ty S thanh toán thêm số tiền 150.000.000 đồng nên số tiền gốc còn nợ là 4.487.669.900 đồng.

Tại phiên tòa hôm nay, Công ty B chỉ yêu cầu Công ty S thanh toán số tiền nợ gốc là 4.487.669.900 đồng và số tiền lãi là 700.000.000 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 5.187.669.900 đồng.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Công ty S thống nhất toàn bộ ý kiến trình bày của đại diện Công ty B. Công ty S thừa nhận đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện thì Công ty S còn nợ Công ty B số tiền hàng là 4.637.669.900 đồng. Ngày 30/5/2024, Công ty S thanh toán thêm cho Công ty B số tiền 150.000.000 đồng nên số tiền hàng còn nợ là 4.487.669.900. Công ty S đồng ý thanh toán cho Công ty B mỗi tháng 150.000.000 đồng cho đến khi thanh toán hết nợ. Do Công ty S kinh doanh gặp nhiều khó khăn nên mong muốn Công ty B không yêu cầu trả tiền lãi.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:

Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên, Thẩm phán, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền hàng là 4.487.669.900 đồng và bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Công ty B yêu cầu bị đơn Công ty S trả tiền mua hàng còn nợ và tiền lãi chậm trả nên đây là vụ án “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo quy định tại Điều 27 của Luật Thương mại và Điều 385 của Bộ luật Dân sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Tại thời điểm thụ lý vụ án, bị đơn Công ty S có trụ sở tại số A, đường U, khu phố F, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

5

[3] Về nội dung vụ án:

Căn cứ vào đơn đặt hàng của Công ty S, Công ty B đã bán cho Công ty S các mặt hàng là nhựa polyol nguyên sinh, nhựa polymethylene dạng nguyên sinh, sản phẩm hóa chất các loại và đã xuất 13 hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền 5.040.341.900 đồng. Công ty S đã thanh toán số tiền 552.672.000 đồng, còn nợ số tiền 4.487.669.900 đồng. Do đó, Công ty B khởi kiện yêu cầu Công ty S thanh toán số tiền nợ gốc là 4.487.669.900 đồng và tiền lãi phát sinh tương ứng với số tiền chậm thanh toán là 700.000.000 đồng. Tổng số tiền phải thanh toán là 5.187.669.900 đồng.

[4] Đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc:

Xét thấy, tại Biên bản hòa giải ngày 23/5/2024 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Công ty S thừa nhận Công ty S còn nợ Công ty B tiền hàng là 4.487.669.900 đồng nên đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bên bán đã thực hiện nghĩa vụ giao hàng, bên mua đã nhận hàng nhưng không thanh toán đầy đủ tiền mua hàng là vi phạm nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 50 của Luật Thương mại. Do vậy yêu cầu của Công ty B buộc Công ty S thanh toán tiền mua hàng còn nợ 4.487.669.900 đồng là có căn cứ.

[5] Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ:

Công ty B yêu cầu Công ty S thanh toán tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán với mức lãi suất 1%/tháng tính từ ngày xuất hóa đơn giá trị gia tăng đến hết tháng 5 năm 2024.

Hội đồng xét xử xét thấy: Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải trả tiền lãi trên số tiền chậm thanh toán theo quy định tại Điều 306 của Luật Thương mại. Do các bên không thỏa thuận lãi suất nên theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, lãi suất chậm trả sẽ được tính “căn cứ vào mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng thương mại cổ phần N1, Ngân hàng thương mại cổ phần C, Ngân hàng N2,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở ...”.

Tại thời điểm xét xử, mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 14%/năm, tương đương 1,166%/tháng (trong đó: mức lãi suất nợ quá hạn tại Ngân hàng TMCP Đ là 12%/năm, tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần S1 là 15%/năm, tại Ngân hàng N2 là 15%/năm). Như vậy, Công ty B yêu cầu Công ty S trả tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán với lãi suất 1%/tháng, số tiền 700.000.000 đồng là phù hợp, có lợi cho Công ty S nên có căn cứ chấp nhận.

[6] Từ những phân tích và căn cứ nêu tại mục [4] và [5], có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty B, buộc Công ty S thanh toán cho Công ty B:

6

Số tiền nợ gốc: 4.487.669.900 đồng.

Số tiền lãi chậm trả: 700.000.000 đồng.

Tổng số tiền phải thanh toán là 5.187.669.900 đồng.

[7] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp.

[8] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: bị đơn Công ty S phải chịu án phí đối với phần yêu cầu của nguyên đơn Công ty B được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92; các Điều 147, 227, 235, 244, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Các Điều 50, 55, 301 và 306 của Luật Thương mại;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH B về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” với Công ty TNHH S.

Buộc Công ty TNHH S có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH B tổng số tiền 5.187.669.900 đồng; trong đó: tiền nợ gốc là 4.487.669.900 đồng, tiền lãi chậm trả là 700.000.000 đồng.

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thanh toán, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí:

Buộc Công ty TNHH S chịu số tiền 113.187.670 đồng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm.

Trả lại cho Công ty TNHH B số tiền 56.684.786 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001375 ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 1 và 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành

7

án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Tân Uyên;
  • - CCTHADS thành phố Tân Uyên;
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu: hồ sơ vụ án, Văn thư, 7.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/KDTM-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 26/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: MUa bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger