Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/DS-PT.

Ngày: 04-01-2024

V/v: “T/c HĐ vay tài sản, yêu cầu

tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho QSD đất,

HĐ CN quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng

Các Thẩm phán: 1. Bà Đinh Thị Ngọc Yến

2. Ông Trần Trọng Nhân

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Yến Khanh - Thư ký Tòa án tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 27 tháng 12 năm 2023 và ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 322/2023/TLPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 728/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 348/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    1. Bà Trần Nhựt A, sinh năm 1973.
    2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965.

    Cùng địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Minh D, sinh năm 1973.

    Địa chỉ: số A, đường T, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn:
    1. Bà Phạm Thị M (tên gọi khác Phạm Thị N), sinh năm 1977.
    2. Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1970.
    3. Bà Nguyễn Khánh L, sinh năm 1999.

2

Cùng địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1975.

Địa chỉ: số B đường T, phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1968
    2. Bà Đoàn Thị Thanh N1, sinh năm 1972

    Địa chỉ: số B, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    1. Ông Phan Kim T1, sinh năm 1975
    2. Bà Đỗ Thị Mỹ L1, sinh năm 1985

    Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    1. Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T2

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn D1 - Chức vụ: Trưởng văn phòng.

    Địa chỉ: số A, đường N, khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.

    1. Ông Phạm Văn T3, sinh năm 1974.

    Địa chỉ: số E, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

    1. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1959.

    Địa chỉ: số D, Q, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

    1. Ông Nguyễn Hữu N2, sinh năm 1952.

    Địa chỉ: số I, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.

  2. Người kháng cáo: Bị đơn bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Khánh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T và quá trình tố tụng người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn là ông Phạm Minh D trình bày: Ngày 30 tháng 5 năm 2019, do quen biết nên bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T có cho vợ chồng bà Phạm Thị M (tên gọi khác: Phạm Thị N) và ông Nguyễn Hữu Q vay với số tiền là 3.120.000.000đồng, thời hạn vay là 3 năm, mục đích vay tiền để kinh doanh phân bón, mỗi tháng vợ chồng bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q có nghĩa vụ trả cho bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T số tiền là 87.000.000đ theo giấy mượn tiền ngày 30/5/2019.

Sau khi vay tiền thì bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q trả tiền cho bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T không đúng theo thỏa thuận, liên tục vi phạm nghĩa vụ, cụ thể:

  • - Ngày 30 tháng 6 năm 2019, trả số tiền 50.000.000đồng.
  • - Ngày 30 tháng 7 năm 2019, trả số tiền 50.000.000đồng.
  • - Ngày 30 tháng 8 năm 2019, trả số tiền 50.000.000đồng.
  • - Ngày 29 tháng 9 năm 2019, trả số tiền 50.000.000đồng.
  • - Ngày 29 tháng 10 năm 2019, trả số tiền 50.000.000đồng.
  • - Ngày 28 tháng 11 năm 2019, trả số tiền 30.000.000đồng.
  • - Ngày 29 tháng 12 năm 2019, trả số tiền 30.000.000đồng.
  • - Ngày 08 tháng 03 năm 2020, trả số tiền 60.000.000đồng.

Tổng cộng số tiền đã trả là 370.000.000đồng.

3

Ngoài ra, bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q trong khi còn nợ tiền của bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T nhưng lại tặng cho các thửa đất số 122, 161, cùng tờ bản đồ số 25 cho con ruột của bà M, ông Q là bà Nguyễn Khánh L, bà Nguyễn Khánh L lại tiếp tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Phan Kim T1 tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T2 chứng thực.

Nay bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết:

  1. Buộc bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 2.750.000.000đồng, yêu cầu tính lãi chậm trả từ 31/5/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 1 năm, 2 tháng 22 ngày, với mức lãi suất 10%/năm. Tổng tiền lãi là 336.985.000đồng.
  2. Yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L ký ngày 28/4/2020 tại hai thửa đất nêu trên; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Khánh L với ông Phan Kim T1 ký kết ngày 26/6/2020 tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 25, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An do Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T2 chứng thực.
  3. Yêu cầu tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đối với bà Nguyễn Khánh L.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn rút yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Khánh L với ông Phan Kim T1 đối với thửa đất số 122, tờ bản đồ số 25, loại đất ONT, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.

Bị đơn bà Phạm Thị M trình bày: Do chỗ quen biết với bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T nên bà và chồng là ông Nguyễn Hữu Q có vay tiền của bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T nhiều lần, vay có trả lãi đầy đủ với lãi suất cao, 10%/tháng hoặc 30%/tháng nhưng các lần trả tiền lãi không có viết biên nhận, không có ai chứng kiến, đến ngày 30/5/2019 đối chiếu nợ thì bà M và ông Q xác định còn nợ bà A và ông T số tiền là 3.120.000.000đồng, trong đó tiền gốc là 720.000.000đồng và tiền lãi 2.400.000.000đồng, đồng thời thỏa thuận thời hạn trả nợ là 3 năm theo thỏa thuận mỗi tháng trả số tiền là 87.000.000đồng theo giấy nợ ngày 30/5/2019, nhưng do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên sau khi thỏa thuận thì bà với ông Q chỉ trả được số tiền là 370.000.000đồng. Bà M xác định chỉ còn nợ số tiền gốc là 720.000.000đồng - 370.000.000đồng số tiền đã trả, như vậy số tiền còn nợ là 350.000.000đồng.

Đối với yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 122, 161, cùng tờ bản đồ số 25 tại xã T, huyện C, tỉnh Long An thì bà và ông Q không đồng ý vì lúc khó khăn có bàn bạc với anh chị trong gia đình chuyển nhượng đất cho con gái để giữ gìn tài sản của ông bà để lại, nhưng không làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đất mà làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ chuyển nhượng các phần

4

đất trồng thanh long, nhà đất do bà và ông Q tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến nay. Bà và ông Q chuyển nhượng cho bà Khánh L với giá là 600.000.000đồng, nguồn tiền nhận chuyển nhượng là do bà Khánh L mượn của cậu ruột là ông Phạm Văn T3 số tiền 100.000.000đồng, ông Nguyễn Hữu N2 là bác ruột số tiền 100.000.000đồng, bà Nguyễn Thị Á là cô ruột số tiền 100.000.000đồng và ông Nguyễn Hữu P là bác ruột số tiền 300.000.000đồng.

Riêng phần nhà và phần đất tại thửa đất số 122, một phần thửa đất số 161 hiện tại do ông Nguyễn Hữu P đang quản lý sử dụng là tài sản và quyền sử dụng đất của ông P vì ông P đã sử dụng ổn định từ trước, phần đất này do cha mẹ ruột của ông P cho ông P nhưng chưa thực hiện thủ tục tách thửa.

Đối với yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn thì bà và ông Q đồng ý trả cho bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T số tiền nợ là 350.000.000đồng và yêu cầu bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T cho bà và ông Q trả dần, mỗi năm trả 30.000.000đồng cho đến khi hết nợ, không đồng ý trả tiền lãi, yêu cầu hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đối với bà Nguyễn Khánh L.

Bị đơn ông Nguyễn Hữu Q trình bày: ông thống nhất với toàn bộ ý kiến của bà Phạm Thị M, không có ý kiến gì khác.

Bị đơn bà Nguyễn Khánh L trình bày: Đối với yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 122, 161 của các nguyên đơn, bà xác định không đồng ý vì cha mẹ ruột của bà là ông Q và bà M nợ Ngân hàng và còn nợ bên ngoài nên bà có báo cho các cậu, cô, bác của bà biết việc nhận chuyển nhượng đất với giá là 600.000.000đồng, nên bà mượn của cậu ruột là ông Phạm Văn T3 số tiền 100.000.000đồng, ông Nguyễn Hữu N2 là bác ruột số tiền 100.000.000đồng, bà Nguyễn Thị Á là cô ruột số tiền 100.000.000đồng và ông Nguyễn Hữu P là bác ruột số tiền 300.000.000đồng để bà nhận chuyển nhượng các thửa đất trên để giữ gìn đất của ông bà để lại. Khi chuyển nhượng bà xác định phần đất nhận chuyển nhượng là đến hàng rào đã xây dựng và phần đất ruộng không có phần đất của ông P đang quản lý, sử dụng có diện tích khoảng 1.000m². Khi nhận chuyển nhượng các thửa đất số 122, 161 thì bà biết bà M, ông Q đang nợ tiền của bà A, ông T.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Văn T3 trình bày: Ngày 02/02/2020 ông xác định có cho bà Nguyễn Khánh L mượn số tiền 100.000.000đồng, nguồn tiền từ việc bán thanh long, tiền này là của vợ chồng ông. Trong trường hợp hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hữu Q và bà Phạm Thị M với bà Nguyễn Khánh L thì ông yêu cầu bà L trả lại cho ông số tiền 100.000.000₫ và không yêu cầu tính lãi. Ông sẽ làm đơn khởi kiện gửi cho Tòa án trong hạn 15 ngày, kể ngày 17/6/2020.
  2. Ông Nguyễn Hữu P trình bày: Ngày 02/02/2020 ông xác định có cho bà Nguyễn Khánh L mượn số tiền 300.000.000đồng, nguồn tiền từ việc mua bán thanh long, mua bán đồ xưa, tiền này là tiền riêng của ông. Trong trường hợp hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hữu Q và bà

5

Phạm Thị M với bà Nguyễn Khánh L thì ông yêu cầu bà L trả lại cho ông số tiền 300.000.000đ và không yêu cầu tính lãi. Ông yêu cầu Tòa án xác định quyền sử dụng của ông đối với các phần đất ông đã sử dụng ổn định và canh tác lâu dài theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12 tháng 6 năm 2020. Ông sẽ làm đơn khởi kiện gửi cho Tòa án trong hạn 15 ngày, kể ngày 17/6/2020.

  1. Ông Nguyễn Hữu N2 trình bày: Ngày 02/02/2020 ông có cho bà Nguyễn Khánh L mượn số tiền 100.000.000đ, nguồn tiền do ông tích lũy, tiền này là tiền riêng của ông. Trong trường hợp hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hữu Q và bà Phạm Thị M với bà Nguyễn Khánh L thì giữa ông và bà L sẽ tự thỏa thuận việc trả tiền, nếu có tranh chấp thì ông sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
  2. Bà Nguyễn Thị Á trình bày: Bà xác định có cho bà L vay số tiền 100.000.000đ để bà L nhận chuyển nhượng hai thửa đất. Bà Á không yêu cầu gì đối với số tiền này.

Tại Bản án dân sự sơ sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tuyên:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 122, Điều 228, Điều 357, Điều 407, Điều 463, Điều 466, Điều 468 và Điều 470 của Bộ luật Dân sự; Điều 27 Luật hôn nhân và Gia đình; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T về việc buộc bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q trả tiền vay.

    Buộc bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q có nghĩa vụ liên đới trả cho Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T tổng số tiền 3.086.985.000đồng, trong đó số tiền gốc là 2.750.000.000đ và tiền lãi chậm trả là 336.985.000đồng.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì phải trả lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử đụng đất ngày 28/4/ 2020 giữa bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L đối với các thửa đất số 122, 161, tờ bản đồ số 25, các thửa đất tọa lạc xã T, huyện C, Long An được văn phòng công chứng Trần Ngọc X Thảo chứng nhận ngày 28/4/2020 vô hiệu.
  3. Đình chỉ yêu cầu của bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T về hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26 tháng 6 năm 2020 giữa bà Nguyễn Khánh L với ông Phan Kim T1 đối với thửa đất số 122, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  4. Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q phải liên đới chịu số tiền là 48.960.000đ. Bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T đã trả xong

6

48.960.000đ. Buộc bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q phải liên đới hoàn trả cho bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T với số tiền là 48.960.000đ .

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì phải trả lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  1. Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 07 tháng 9 năm 2023, bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Khánh L kháng cáo bản án sơ thẩm, nội dung kháng cáo bà M và ông Q chỉ đồng ý trả số tiền 350.000.000đồng; bà M, ông Q, bà Khánh L không đồng ý tuyên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu, yêu cầu hủy Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn và người liên quan không rút đơn kháng cáo.

Bà Phạm Thị M và ông Võ Văn Ú là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Khánh L cung cấp: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký kết giữa bà Nguyễn Khánh L với bà Nguyễn Thị Thái H tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 25, loại đất ONT tại xã T, huyện C, tỉnh Long An, được Văn phòng công chứng Phạm Quốc T4 chứng thực ngày 28/3/2023, hiện bà Nguyễn Thị Thái H đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 122; Hợp đồng thế chấp (viết tay) giữa bà Nguyễn Khánh L với bà Lưu Thị B tại thửa đất số 161, tờ bản đồ số 25, loại đất lúa, tại xã T, huyện C, tỉnh Long An, hiện bà B đang giữ bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 161 này.

Ông Nguyễn Hữu P cung cấp tài liệu chứng cứ để chứng minh quyền sử dụng đất tại một phần thửa đất số 122 và thửa đất số 161 hiện ông P đang quản lý, sử dụng là do cha mẹ ông để lại cho ông nhưng chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng hôm nay lại bị tranh chấp.

Nguyên đơn do ông Phạm Minh D trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bà M, ông Q và bà L.

Bà M và người đại diện của bà L: Đề nghị chấp nhận yêu cầu kháng cáo là sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng dân sự: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định của

7

Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về nội dung:

Theo nội dung giấy mượn nợ ngày 30/5/2019 có chữ ký của bà M, ông Q, thể hiện bà M, ông Q có vay của ông T, bà A số tiền 3.120.000.000 đồng, thời hạn trả là 03 năm, mỗi tháng trả 87.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Bà A, ông T thừa nhận phía bà M, ông Q đã trả số tiền 370.000.000 đồng.

Bà M, ông Q cho rằng bị buộc ký vào giấy biên nhận nợ, thực chất chỉ nợ số tiền vốn 720.000.000 đồng và đã trả được số tiền 370.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 350.000.000 đồng vốn. Tuy nhiên bà M, ông Q không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông bà chỉ nợ tiền gốc là 720.000.000 đồng nên không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bà M và ông Q.

Về yêu cầu vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông Q, bà M với bà Nguyễn Khánh L đối với thửa đất số 122 và 161, cùng tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc xã T, C, Long An. Tại thời điểm bà M, ông Q tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Khánh L, thấy rằng:

Theo hồ sơ thể hiện thửa đất số 161 là đất lúa, trên đất có trồng thanh long; thửa đất số 122 là đất thổ, trên đất có hai ngôi nhà, ở vị trí A là ngôi nhà của vợ chồng bị đơn, ở vị trí B là ngôi nhà của ông Nguyễn Hữu P (theo ông P là xây dựng từ năm 1990) theo Mảnh trích đo địa chính số 359-2022 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C phê duyệt ngày 28/11/2022. Như vậy, việc tặng cho này có ảnh hưởng đến quyền lợi của ông P. Ngoài ra, thời điểm ngày 30/5/2019 bà M, ông Q có nghĩa vụ trả tiền vay cho bà A, ông T. Việc này bà Khánh L, bà M, ông Q thừa nhận biết rõ (chứng cứ chính là lời trình bày của bà Khánh L khi mượn tiền của họ hàng mua lại đất để giữ gìn đất của gia đình).

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà Nguyễn Khánh L có người đại diện theo ủy quyền trình bày: Sau khi ông Q, bà M tặng cho thửa đất số 122 và 161 ngày 28/4/2020, đến ngày 07/5/2020 bà Nguyễn Khánh L được điều chỉnh biến động đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 04/5/2020 Toà án thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Đến ngày 30/6/2020 Toà án nhân dân huyện Châu Thành ra quyết định số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30/6/2020 cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp tại các thửa đất số 122 và 161. Ngày 20/9/2020 bà L thế chấp thửa đất 161 cho bà Lưu Thị B vay số tiền 500.000.000 đồng (bà B cung cấp giấy tay hợp đồng thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính thửa đất số 161 của bà Khánh L đứng tên). Ngày 28/3/2023, bà L chuyển nhượng thửa đất số 122 cho bà Nguyễn Thị Thái H với

8

giá 800.000.000 đồng. Bà H có cung cấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/3/2023 tại Văn phòng C.

Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm ông Nguyễn Hữu P cung cấp các tài liệu cha mẹ cho đất từ năm 2004 là phần đất ông xác định đang quản lý, sử dụng xây dựng nhà ở.

Nhận thấy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho tất cả các đương sự, đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà M, ông Q và bà Khánh L. Căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm về quan hệ tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L đối với các thửa đất 122, 161, cùng tờ bản đồ số 25, các thửa đất tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An. Các phần khác của bản án sơ thẩm cần giữ nguyên, trong đó có Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Hữu Q và bà Nguyễn Khánh L được làm đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
    2. Về thẩm quyền giải quyết vụ án. Xét thấy, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
    3. Về việc vắng mặt của các đương sự: Ông Phan Kim T1, bà Đỗ Thị Mỹ L1, Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Bích T2, ông Phạm Hữu N3, ông Phạm Văn T3 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
  2. Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L, thấy rằng:
    1. Đối với số tiền vay: Căn cứ vào giấy mượn nợ ngày 30/5/2019 có chữ ký của bà M, ông Q, thể hiện bà M, ông Q có vay của ông T, bà A số tiền 3.120.000.000 đồng, thời hạn trả là 03 năm, mỗi tháng trả 87.000.000 đồng, không thỏa thuận lãi suất. Bà A, ông T thừa nhận phía bà M, ông Q đã trả số tiền 370.000.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án bà M, ông Q thừa nhận chữ ký và chữ viết tại giấy mượn nợ ngày 30/5/2019 là của ông, bà nhưng thực chất ông Q và bà M chỉ nợ số tiền gốc là 720.000.000 đồng, phần còn lại là tiền lãi, đồng thời bà M, ông Q cho rằng đã trả cho bà A, ông T số tiền 370.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền gốc là 350.000.000 đồng, nên bà M và ông Q đồng ý trả cho bà A và ông T số tiền 350.000.000đ và xin trả dần cho đến khi hết số nợ. Tuy nhiên,

9

căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 20/5/2020, thì bà M, ông Q đã thừa nhận có vay của bà A và ông T số tiền là 3.120.000.000đồng, nhưng phía nguyên đơn thừa nhận bị đơn đã trả tiền cho nguyên đơn 8 lần với số tiền là 370.000.000đồng, nên số tiền gốc còn lại chưa trả là 2.750.000.000đồng. Phía ông Q và bà M chỉ trình bày không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền vay là có căn cứ, nên yêu cầu kháng cáo của bà M và ông Q đối với phần này không có căn cứ nên không được chấp nhận.

  1. Xét đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà M và ông Q với bà L tại thửa đất số 122, 161, cùng tờ bản đồ số 25, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An: Bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử đụng đất nêu trên. Xét thấy, tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự cung cấp chứng cứ mới và có văn bản trình bày ý kiến thể hiện thửa đất số 122 bà Khánh L đã chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thái H theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C chứng thực ngày 28/3/2023, giá chuyển nhượng là 800.000.000đồng, hiện tại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 122 do bà Nguyễn Thị Thái H đang giữ; đối với thửa đất số 161 bà Khánh L cũng đã thế chấp cho bà Lưu Thị B để vay số tiền 500.000.000đồng, hiện tại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất 161 do bà Lưu Thị B đang giữ. Ngoài ra, ông Nguyễn Hữu P cũng cung cấp chứng cứ để chứng minh một phần diện tích thuộc thửa đất số 122 và 161 hiện có căn nhà của ông P đang quản lý và sử dụng và ông P cho rằng quyền sử dụng đất này có nguồn gốc là của cha mẹ ông chết để lại và đã cho ông P xây dựng nhà ở. Do đó, ông P xác định nếu quyền sử dụng đất đang tranh chấp phải phát mãi để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bà M và ông Q thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của ông P.

    Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H, bà B và ông P xác định đề nghị Tòa phúc thẩm triệu tập những người này tham gia tố tụng trong cùng vụ án này và cho họ được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu của họ trong cùng vụ án. Xét thấy, những chứng cứ mới vừa phát sinh tại Tòa án phúc thẩm, các yêu cầu của ông P, bà H, bà B đưa ra chưa được Tòa sơ thẩm xem xét, nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không thể xem xét giải quyết tại cấp phúc thẩm được. Do đó, để giải quyết toàn diện và triệt để vụ án cũng như đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm cần phải hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm liên quan đến hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại thửa số 122, 161 và giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.

  1. Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Hữu Q và bà Nguyễn Khánh L, cần hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm về quan hệ tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L, các phần khác của bản án sơ thẩm cần giữ nguyên, trong đó có Quyết định áp dụng khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

10

  1. Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Hữu Q và bà Nguyễn Khánh L không phải chịu án phí do chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo.
  3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1, 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị M, ông Nguyễn Hữu Q, bà Nguyễn Khánh L.

Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về việc tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L.

Giữ nguyên một phần bản án dân sự sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về việc tranh chấp hợp đồng vay giữa bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T đối với ông Nguyễn Hữu Q, bà Phạm Thị M.

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

Căn cứ Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản đối với bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q.
    1. Buộc bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T tổng số tiền vay là 3.086.985.000đồng, trong đó số tiền gốc là 2.750.000.000đồng và tiền lãi là 336.985.000đồng.
    2. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền nêu trên, thì phải trả lãi phát sinh trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

11

  1. Về án phí sơ thẩm: Đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bà Trần Nhựt A, ông Nguyễn Văn T không phải chịu án phí. H1 lại cho bà A và ông T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 50.118.552 đồng theo các biên lai thu tiền số 0000372 ngày 27/4/2020, số 0007715 ngày 11/02/2022 và số 0000566 ngày 27/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Nhựt A và ông Nguyễn Văn T về hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26 tháng 6 năm 2020 giữa bà Nguyễn Khánh L với ông Phan Kim T1 tại thửa đất số 122, tờ bản đồ số 25, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  2. Hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 143/2023/DS-ST ngày 23/8/2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành về việc nguyên đơn yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử đụng đất ngày 28/4/2020 giữa bà Phạm Thị M và ông Nguyễn Hữu Q với bà Nguyễn Khánh L đối với các thửa đất số 122, 161, cùng tờ bản đồ số 25, các thửa đất tọa lạc xã T, huyện C, tỉnh Long An được Văn phòng C1 Thảo chứng thực công chứng số 1020, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/4/2020. Giao hồ sơ vụ án đối với một phần bản án bị hủy này về Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm đối với phần bản án bị hủy.
  3. Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 05/2020/QĐ-BPKCTT ngày 30 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
  4. Về chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm: Về việc liên quan đến yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đang tranh chấp sẽ được xem xét khi Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  5. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Hữu Q, bà Phạm Thị M, bà Nguyễn Khánh L không phải chịu án phí. Hoàn trả cho bà M, ông Q, bà Khánh L số tiền tạm ứng án phí đã nộp mỗi người là 300.000đồng theo các biên lai thu tiền số 0003643, 0003644 và 0003642 cùng ngày 07/9/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
  6. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

12

  1. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

13

Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Cẩm Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/DS-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 09/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, yêu cầu tuyên vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự, sửa 1 phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger