Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUẢNG NINH

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/HS-ST

Ngày: 10 - 6 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Tậnbà Hoàng Thị Tường Vy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với:

Bị cáo Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 06 tháng 05 năm 1999 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm: 1976 và bà: Lê Thị N, sinh năm: 1979; Tiền án, tiền sự: không.

Quá trình nhân thân: Nguyễn Ngọc T bị Công an huyện Q xử phạt hành chính về hành vi vi phạm khai thác cát lóng sông trái phép tại Quyết định số: 82/QĐ-XPVPHC ngày 20/9/2018. Bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 10/2019/HSST ngày 10/5/2019;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Võ Thị T1, sinh năm 1965, địa chỉ: TDP B, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  2. Ngô Thị H, sinh năm 1974, địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

2

  1. Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 1985, địa chỉ: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  2. Võ Thị H1, sinh năm 1979, địa chỉ: thôn Đ, xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;

- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị V, sinh năm 1970, địa chỉ: thôn R, xã T, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Trần Văn H2, sinh năm 1990, địa chỉ: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt;
  2. Chị Trần Thị Minh A, sinh năm 1998, địa chỉ: thôn X, xã X, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 04 giờ 30 ngày 15/01/2024, Nguyễn Ngọc T đi xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về Quảng Bình, đến đoạn đường Q thuộc thị trấn Q, Quảng Ninh, Quảng Bình thì T xuống xe. Sau đó, T đi tìm quán để ăn sáng, do các quán ở ngoài đường Q chưa mở cửa nên T đi vào trong ngõ để tìm quán ăn sáng nhưng không tìm được nên T đã ngồi ở ngã ba đường ngõ chờ trời sáng tiếp tục đi tìm quán ăn sáng. Đang ngồi thì T thấy bà Võ Thị T1 (sinh năm 1965) ở TDP B, TT. Q, Quảng Ninh, Quảng Bình từ trong nhà mở cửa dắt xe đạp ra khỏi nhà, lúc đó T nghĩ trong nhà bà T1 không còn có ai ở nhà, nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi đến cổng nhà bà T1 và đi quanh hàng rào tìm chỗ để trèo vào bên trong. T tìm được chỗ hàng rào phía bên trái nhà bà T1 (nhìn từ trước ra sau) trèo qua hàng rào vào hành lang bên trái ngôi nhà, T đi dọc hành lang thì thấy có một cánh cửa hông bên nhà đang đóng, T tới gần thử mở cửa thì thấy cửa không khóa nên đã mở cửa đi vào trong nhà. T tới mở cửa phòng ngủ phía trước ra thấy bên trong phòng không có đồ đạc gì nên không vào. T tiếp tục mở cửa phòng ngủ phía sau ra thấy bên trong có nhiều đồ đạc nên vào lục lọi tìm tài sản để trộm cắp. T thấy có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen để ở trên giường ngủ nên T lấy trộm và bỏ vào túi quần bên trái phía trước, sau đó T tiếp tục lục tìm trong phòng thì thấy túi xách treo ở móc treo quần áo phía sau cửa phòng ngủ, bên trong túi xách có 01 (một) thẻ Căn cước công dân và 01 (một) thẻ ATM của bà T1, T lấy bỏ vào trong túi quần bên trái phía trước. Sau đó, T đi ra khu vực bếp tiếp tục tìm tài sản. T thấy có số tiền 2.320.000 đồng (Hai triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) nằm trong hộp giấy để ở bên trong tủ kính tại khu vực bếp, T lấy số tiền này để vào trong túi quần phía trước bên trái. Sau khi T lấy được tài sản xong thì mở cửa chính phía trước nhà và rời khỏi nhà bà T1. T đi dọc đường để

3

bên đường T lấy thẻ ATM của bà T1 vừa lấy trộm được và đi vào thử rút tiền tại cây ATM. T thử nhập mật khẩu là ngày tháng năm sinh của bà T1 (Thẻ này được ở trong thẻ CCCD của bà T1T vừa lấy trộm) thì đúng mật khẩu nên T đã rút số tiền 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) từ trong tài khoản của bà T1 và bỏ số tiền này vào trong túi quần phía trước bên trái. Sau đó, T tiếp tục đi dọc đường để tìm quán ăn sáng. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, T đang đi dọc đường thì bị Công an huyện Q phối hợp với Công an thị trấn Q bắt và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của T số tiền 4.820.000 đồng (Bốn triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng), 01 (một) điện thoại nhãn hiệu OPPO màu đen, 01 (một) thẻ CCCD và 01 (một) thẻ ATM, đó là các tài sản mà T vừa trộm cắp được của bà Võ Thị T1. Cơ quan Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Ngọc Trung.

Quá trình điều tra, Nguyễn Ngọc T khai nhận thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản khác:

Vụ thứ nhất: Vào tối ngày 12/11/2023, do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Ngọc T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản, T đi bộ dọc theo tuyến đường ở thôn X, xã X, Quảng Ninh, Quảng Bình để tìm xem nhà nào có sơ hở thì sẽ đột nhập vào trộm cắp tài sản. Đến khoảng 19 giờ 00 cùng ngày, T đi ngang qua nhà bà Ngô Thị H (sinh năm 1974) ở thôn X, xã X, Quảng Ninh, Quảng Bình, T đột nhập vào nhà bà H để trộm cắp tài sản. T leo qua hàng rào phía trước nhà để vào trong sân, sau đó đi qua lối cửa chính vào trong phòng khách, T thấy có 01 (một) phòng ngủ ở phía bên phải (theo hướng từ ngoài vào trong nhà) cánh phòng khách mở cửa, T vào lục lọi đồ đạc trong phòng, phát hiện ở móc treo quần áo trên tường sát cửa phòng có treo 01 (một) túi nilon, bên trong túi có 01 (một) cái ví, bên trong có số tiền mặt là 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) gồm 10 (mười) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). T đã lấy trộm số tiền này bỏ vào trong túi quần rồi rời khỏi nhà bà H. Số tiền này T đã dùng tiêu xài cá nhân.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 14/11/2023, do không có tiền để tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Ngọc T đã nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản, T biết nhà của anh Nguyễn Hữu T2 (sinh năm 1985) ở thôn X, xã X, Quảng Ninh, Quảng Bình có nuôi nhiều gà nên đã lấy 01 (một) cái bao lác màu trắng ở trong nhà mình rồi đi sang nhà anh T2 để bắt trộm gà đem bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến nhà anh T2 thì T thấy cửa cổng không khóa, trong nhà không có ai nên T đã lẻn vào chuồng gà nằm ở khu vườn phía bên phải nhà anh T2 (nhìn từ những từ trước ra sau nhà) và bắt trộm 05 con gà kiển, gồm 03 con gà trống và 02 con gà mái, tổng khối lượng 09kg bỏ vào trong bao lác rồi xách ra ngoài đường. Khi đi một đoạn thì T nghĩ có anh Trần Văn H2, sinh năm 1990 ở thôn X, xã X, huyện Q (còn hay được gọi là Bòm P) hay mua gà để nhậu nên T đã lấy điện thoại gọi cho anh H2 hỏi có mua gà không để T bán cho, anh H2 trả lời là nếu bán rẻ thì mua, T đồng ý và bảo anh H2 chờ ở nhà để T đem gà qua bán. T xách bao lác đựng gà tới nhà anh H2,

4

gặp anh H2 và bán số gà trên cho anh H2 với giá tiền là 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng). Số tiền bán được T đã tiêu xài hết. Đến khoảng 22 giờ 00 cùng ngày anh T2 đến nhà tìm T hỏi có bắt trộm gà của anh T2 không để anh T2 lấy lại thì T nhận là đã bắt trộm gà của anh T2 và đã bán cho anh H2. Khi đó, T cùng anh T2 đến nhà anh H2 để xin lại gà, anh H2 khi biết số gà vừa mua của T nói trên là do T bắt trộm của anh T2 nên đã trả lại toàn bộ số gà cho anh T2.

Vụ thứ ba: Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 13/12/2023, Nguyễn Ngọc T đang điều khiển xe mô tô YAMAHA JUPITER màu đen mang BKS: 73N1-8457 mượn của cô ruột là bà Nguyễn Thị V (sinh năm 1970) ở thôn R, T. Quảng Ninh, Quảng Bình đi chơi ở xã H, Quảng Ninh, Quảng Bình, khi ngang qua nhà bà Võ Thị H1 (sinh năm 1979) ở thôn Đ, H. Quảng Ninh, Quảng Bình thấy cửa không đóng, trong nhà không có ai nên T đã nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. T dừng xe bên đường, rồi đi tới nhảy qua hàng rào ở bên phải ngôi nhà (theo hướng nhìn từ trước ra sau nhà), T đi vào nhà qua lối cửa phụ phía trước. T thấy có 01 (một) phòng ngủ nằm phía sau phòng khách không khóa cửa nên T đã đi vào trong phòng. T thấy có 01 (một) cái tủ đứng, chìa khóa cắm ở ổ khóa nên đã tới mở cửa tủ ra. T lục trong tủ thì thấy có 01 (một) cái ví để ở dưới đáy tủ, bên trong có 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) gồm 12 (mười hai) tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng). T lấy số tiền này bỏ vào trong túi quần rồi rời khỏi nhà theo lối cửa hông phía sau. Sau đó T lấy xe và tiếp tục đi chơi. Số tiền lấy trộm được này T đã dùng tiêu xài cá nhân.

Ngày 29/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q có Kết luận định giá tài sản số 03/TB-KLĐG, kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143064398258, số IMEI 2: 867143064398241, đã qua sử dụng có giá trị là 3.350.000 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngày 12/3/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q có Kết luận định giá tài sản số 09/TB-KLĐG, kết luận: + 03 (ba) con gà trống có tổng khối lượng 06kg có giá trị là 720.000 đồng (Bay trăm hai mươi nghìn đồng). + 02 (hai) con gà mái có tổng khối lượng 03kg có giá trị là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: Ngày 15/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q trong quá trình bắt quả tang Nguyễn Ngọc T đã thu giữ, tạm giữ những đồ vật, tài liệu gồm:

- Số tiền 4.820.000 đồng, tiền Ngân hàng N1 phát hành, bao gồm: 09 (chín) tờ mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) + 03 (ba) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) + 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng); Ngày 04/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 182/QĐ-ĐCSHS-KT-MT trả lại cho chủ sở hữu là bà Võ Thị T1.

5

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143064398258, số IMEI 2: 867143064398241, điện thoại đã qua sử dụng.

- 01 (một) thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Võ Thị T1 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 19/4/2021.

- 01 (một) thẻ ATM của Ngân hàng A1 số 9704053071935513 mang tên “VO THI THUYEN”.

Ngày 05/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 79/QĐ-ĐCSHS-KT-MT trả lại cho chủ sở hữu là bà Võ Thị T1 các tài sản, đồ vật trên.

Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q truy tìm vật chứng là 01 (một) bao lác màu trắng, nhưng không tìm thấy.

* Về dân sự: bà Ngô Thị H yêu cầu Nguyễn Ngọc T bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; bà Võ Thị H1 yêu cầu Nguyễn Ngọc T bồi thường số tiền 6.000.000 đồng. Các bị hại bà Võ Thị T1, anh Nguyễn Hữu T2 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm. Anh Trần Văn H2 không yêu cầu Nguyễn Ngọc T bồi thường số tiền 400.000 đồng (là tiền do Nguyễn Ngọc T bán 05 con gà cho anh Trần Văn H2).

Tại Bản cáo trạng số: 18/CT-VKS ngày 24 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc T ra trước Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Ngọc T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các bị hại Ngô Thị H, Võ Thị H1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền bị cáo đã trộm cắp như đã trình bày tại cơ quan điều tra.

Các bị hại Võ Thị T1, Nguyễn Hữu T2 vắng mặt tại phiên tòa, những người này đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không có yêu cầu bổ sung gì thêm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tại phiên tòa phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự. Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T từ 18 đến 24 tháng tù.

Về vật chứng: Tại cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng nên không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại Võ Thị T1, Nguyễn Hữu T2 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không có yêu cầu bổ sung, nên không xem xét thêm. Đề

6

nghị buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T bồi thường cho bị hại Ngô Thị H số tiền 5.000.000 đồng và bồi thường cho bị hại Võ Thị H1 số tiền 6.000.000 đồng.

Án phí hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.

Tại phiên tòa vắng mặt những người bị hại, người làm chứng nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ, được Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Sự vắng mặt của những người này không gây ảnh hưởng đến việc xác định tội danh và quyết định hình phạt đối với bị cáo. Căn cứ quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng Hình sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người bị hại, người làm chứng.

[2] Xem xét hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Ngọc T đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi như sau: Vào khoảng 04 giờ 30 ngày 15/01/2024, Nguyễn Ngọc T đi xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về Quảng Bình, đến đoạn đường Q thuộc thị trấn Q, Quảng Ninh, Quảng Bình thì T xuống xe, đang ngồi ở ngã ba đường ngõ chờ trời sáng để tìm quán ăn thì T thấy bà Võ Thị T1 dắt xe đạp đi ra khỏi nhà, T nghĩ trong nhà bà T1 không còn có ai nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đột nhập vào nhà bà T1, vào tới phòng ngủ phía sau và phòng bếp lục tìm tài sản để trộm cắp, tổng tài sản T lấy trộm tại nhà bà T1 gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55, 01 thẻ Căn cước công dân, 01 thẻ ATM của bà T1 và số tiền 2.320.000 đồng, toàn bộ tài sản lấy được T cất vào túi quần, sau đó rời khỏi nhà bà T1. Trên đường đi, T thử có 01 cây rút tiền ATM của Ngân hàng A1 ở bên đường. T lấy thẻ ATM của bà T1 vừa lấy trộm được đi vào thử rút tiền tại cây ATM. T nhập mật khẩu là ngày tháng năm sinh của bà T1 thì đúng mật khẩu nên T đã rút số tiền 2.500.000 đồng từ trong tài khoản của bà T1 và cất vào túi quần. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an huyện Q phối hợp với Công an thị trấn Q bắt và thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của T toàn bộ tài sản, số tiền trên mà T vừa trộm cắp được của bà Võ Thị T1. Cơ quan Công an đã lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Ngọc T. Ngày 29/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Q có Kết luận định giá tài sản số 03/TB-KLĐG, kết luận: 01 (một)

7

điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143064398258, số IMEI 2: 867143064398241, điện thoại đã qua sử dụng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận ngoài vụ trộm tài sản của bà Võ Thị T1 bị bắt quả tang, T còn thực hiện các vụ trộm cắp khác như sau:

Vào khoảng 19 giờ 00 tối ngày 12/11/2023, T đi bộ ngang qua nhà bà Ngô Thị H (sinh năm 1974) ở thôn X, xã X, Quảng Ninh, Quảng Bình, T đột nhập vào nhà bà H để trộm cắp tài sản, T đã lấy trộm số tiền mặt là 5.000.000 đồng mà bà H cất ở ví, treo ở móc áo quần trên tường, trong phòng ngủ. Số tiền này T đã dùng tiêu xài cá nhân.

Vào khoảng 09 giờ 00 ngày 13/12/2023, Nguyễn Ngọc T điều khiển xe mô tô YAMAHA JUPITER màu đen mang BKS: 73N1-8457 mượn của cô ruột là bà Nguyễn Thị V (sinh năm 1970) ở thôn R, T. Quảng Ninh, Quảng Bình đi chơi ở xã H, Quảng Ninh, Quảng Bình, khi ngang qua nhà bà Võ Thị H1 thấy cửa không đóng, trong nhà không có ai nên T đã nảy sinh ý định đột nhập vào nhà để trộm cắp tài sản. T đã lấy trộm 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) mà bà H1 đã cất ở ví đặt dưới đáy tủ ở phòng ngủ. Số tiền lấy trộm được này T đã dùng tiêu xài cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo Nguyễn Ngọc T là người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, đã cố tình, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã truy tố và kết luận bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có cơ sở.

Ngoài ra, vào tối ngày 14/11/2023, bị cáo T còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Hữu T2 tổng cộng 05 con gà. Hội đồng định giá đã kết luận: 03 con gà trống có tổng khối lượng 06kg có giá trị là 720.000 đồng; 02 con gà mái có tổng khối lượng 03kg có giá trị là 300.000 đồng, hành vi này đã bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số: 0004119/QĐ-GQXP ngày 02/02/2024 của Công an huyện Q.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong thời gian ngắn, bị cáo Nguyễn Ngọc Trung liên T thực hiện nhiều hành vi trộm cắp tài sản, trong đó có 03 lần mà tổng tài sản trộm cắp có giá trị đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy Bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

8

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện án năn hối cải, vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để lượng hình phạt.

[4] Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân; ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống và gây tâm lý hoang mang cho các bị hại. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, nhưng vẫn không lấy làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân, mà vẫn tiếp tục thực hiện nhiều hành vi trộm cắp, thể hiện ý thức coi thường pháp luật và rèn luyện bản thân kém. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

[5] Đối với anh Trần Văn H2 mua 05 (năm) con gà do Nguyễn Ngọc T bắt trộm được, do anh H2 không biết số gà trên do T trộm cắp mà có nên Hội đồng xét xử không xét xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô BKS 73N1-8457, bị cáo T dùng làm phương tiện để thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 13/12/2023, bà Nguyễn Thị V là chủ sở hữu chiếc xe này nhưng không biết T trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng mà Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm số tiền 4.820.000 đồng, tiền Ngân hàng N1 phát hành; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A55 màu đen, số IMEI 1: 867143064398258, số IMEI 2: 867143064398241; 01 thẻ Căn cước công dân số [...] mang tên Võ Thị T1 do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 19/4/2021; 01 thẻ ATM của Ngân hàng A1 số 9704053071935513 mang tên “VO THI THUYEN”. Tại cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu bà Võ Thị T1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[7] Về dân sự: các bị hại Võ Thị T1, Nguyễn Hữu T2 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị mất và không có yêu cầu gì bổ sung, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Căn cứ Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự; bị hại Ngô Thị H yêu cầu Nguyễn Ngọc T bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; bị hại Võ Thị H1 yêu cầu bị cáo T phải bồi thường số tiền 6.000.000 đồng là có cơ sở, cần buộc bị cáo phải bồi thường.

[8] Án phí hình sự, dân sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

9

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 584, 585, 586 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về tội danh và hình phạt:
  2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản".

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/01/2024.

  3. Về trách nhiệm dân sự:
  4. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho bị hại Ngô Thị H số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng);

    Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải bồi thường cho bị hại Võ Thị H1 số tiền 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng).

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm:
  6. Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.

  7. Quyền kháng cáo:
  8. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/6/2024). Các bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  9. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

10

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Quảng Ninh;
  • - Cơ quan THAHS huyện Quảng Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Quảng Ninh;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 26/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Ngọc Trung phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger