Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TUY HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DS-ST

Ngày 10/5/2024

V/v “Tranh chấp Hợp đồng vay

tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuỳ Trân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Nghĩa và bà Nguyễn Thị Thu Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Hằng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 06/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2024/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Dương Thị Cẩm T, sinh năm 1990; Trú tại: Khu phố C, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Tấn T1, sinh năm 1988; Trú tại: Khu phố E, Phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T trình bày: Ngày 01/01/2022, tôi có cho ông Phan Tấn T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, không thoả thuận tiền lãi. Hai bên có viết giấy mượn nợ và thoả thuận thời hạn vay là 02 tháng kể từ ngày 01/01/2022. Đến hạn nhưng ông T1 không chịu thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho tôi dù tôi đã nhiều lần yêu cầu mà ông T1 chỉ hứa hẹn nhằm kéo dài thời gian.

Nay tôi yêu cầu ông T1 phải trả cho tôi số tiền 5.000.000 đồng. Ngoài ra tôi không yêu cầu gì thêm.

Bị đơn anh Phan Tấn T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Phan Tấn T1 vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh Phan Tấn T1 phải trả cho nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T 5.000.000 đồng tiền gốc. Về tiền lãi: Nguyên đơn không yêu cầu phải trả lãi nên không xem xét. Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu anh Phan Tấn T1 trả nợ 5.000.000 đồng tiền gốc nên xác định quan hệ là “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Phan Tấn T1 cư trú tại thành phố T, tỉnh Phú Yên nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự.

[1.2] Về giải quyết vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa triệu tập hợp lệ để hòa giải và xét xử nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về yêu cầu trả nợ của nguyên đơn: Nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T khởi kiện yêu cầu anh Phan Tấn T1 trả số tiền vay 5.000.000 đồng, kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cung cấp bản gốc Giấy mượn nợ do anh Phan Tấn T1 ký xác nhận khoản vay. Sau khi vay tiền cho đến nay, anh T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu theo đơn khỏi kiện.

[3] Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt tại Tòa và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cũng như gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về số tiền nợ nêu trên.

[4] Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nhận định như sau:

[4.1] Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, phía bị đơn không có bất kỳ phản hồi nào về chứng cứ, lời trình bày đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện cũng như tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; tài liệu chứng cứ do Toà án thu thập được để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[4.2] Căn cứ vào Giấy mượn tiền ngày 01/01/2022 do nguyên đơn cung cấp có nội dung: “Tôi tên: Phan Tấn T1, sinh ngày 10/2/1988. Cư ngụ: khu phố E, phường P, thành phố T tỉnh Phú Yên. Tôi có mượn cô Dương Thị Cẩm T số tiền là 5.000.000 (Năm triệu) đồng. Tôi sẽ trả lại vào 02 tháng sau kể từ ngày tôi viết giấy nợ này”. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ngày 01/01/2022 bị đơn anh T1 có vay của nguyên đơn chị T số tiền 5.000.000 đồng đến nay chưa trả nợ.

Vì vậy, xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu anh Phan Tấn T1 trả nợ 5.000.000 đồng tiền gốc là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc anh Phan Tấn T1 phải trả cho nguyên đơn 5.000.000 đồng tiền gốc.

[4.3] Về lãi suất: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Anh Phan Tấn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228, 238 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 12 năm 2023.

Buộc bị đơn anh Phan Tấn T1 phải trả cho nguyên đơn chị Dương Thị Cẩm T số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng về khoản Hợp đồng vay tài sản.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại các Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Anh Phan Tấn T1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn chị T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0012861 ngày 12 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
Lê Nghĩa Bùi Thị Thuỳ Trân
Nguyễn Thị Thu Thảo

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND TP. Tuy Hòa;
  • - Chi cục THADS TP. Tuy Hoà;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Thị Thuỳ Trân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 26/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA - TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: THIẾU - TÂM
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger