|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 10 tháng 5 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Sơn Hùng - ông Đoàn Văn Hiển.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lâm Thế H (N), sinh năm 1985; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; chổ ở hiện nay: Ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Bá K, sinh năm 1953 (đã chết) và bà Thạch Thị N1, sinh năm 1954; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1989 và có 02 con (con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020); tiền án: Không; tiền sự: Không; về nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Lê Phúc L (Vũ L1), sinh ngày 26/3/1997 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 03 tháng 26 ngày); nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn R, sinh năm 1971 và bà Châu Thanh L2, sinh năm 1976; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Thúy Á, sinh năm 1999 và có 01 con tên Lê Trung T1, năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không. Về nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Nguyễn Nhựt T2, sinh ngày 08/11/1997 (tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 08 tháng 14 ngày); nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1977 và bà Trần Ngọc L3, sinh năm 1982; bị cáo có vợ tên Châu Thị Kim P, sinh năm 2000 và có 01 con tên Nguyễn Tô N2, sinh năm 2021; tiền án: Không; tiền sự: Không. Về nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12/3/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Dương Phúc T4 (Bé C), sinh ngày 15/02/1996; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T5, sinh năm 1960 và bà Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1963; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Về nhân thân: Chưa bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 29/02/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4: Luật sư Nguyễn Phước H1 - Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh A, địa chỉ: Khóm V, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
- Bị hại: Nguyễn Văn H2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)
- Người làm chứng được triệu tập đến phiên tòa: Nguyễn Trọng H3 (có mặt), Nguyễn Văn P1 (vắng mặt), Lâm Ngọc T6 (vắng mặt), Trần Bá Vạn T7 (có mặt), Nguyễn Văn T8 (có mặt), Trần Thị A (có mặt), Nguyễn Thị Trúc M (vắng mặt), Hồ Hoàng H4 (có mặt), Nguyễn Thị Thúy Á (có mặt), Trần Ngọc L3 (có mặt), Nguyễn Văn T3 (có mặt), Lâm Thế V (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2014, Lâm Thế H cùng với Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2, Nguyễn Văn T8 và Trần Bá Vạn T7 tổ chức uống rượu tại quán cháo “T" thuộc ấp B, xã B, huyện C, đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì T8, T7 ra về trước. Trong lúc uống rượu H nhìn thấy Lâm Ngọc T6 (Tuấn B) điều khiển xe mô tô chạy ngang, nhớ lại mâu thuẫn trước đây H nảy sinh ý định đánh T6, nên H đi bộ về nhà lấy cây rựa (dài khoảng 60cm) mang đến quán. Do quán nghỉ bán nên H rủ Phúc L, T2 đến quán “Đồng Quê” thuộc tổ A, ấp B, xã B, huyện C để tiếp tục uống rượu. Tại đây, H rủ Phúc L và T2 đi tìm nhóm T6 Bánh mì đánh thì cả hai đồng ý. Khoảng 23 giờ cùng ngày H lấy cây rựa, Phúc L lấy cây dao tự chế (dài khoảng 60 cm), T2 lấy đoạn gỗ vuông (dài khoảng 60 cm) đi tìm T6 để đánh. Trên đường đi ngang nhà của Lâm Văn T9 (T), thấy T9 đang ngồi uống rượu cùng với Dương Phúc T4 nên H đi vào rủ T9 và T4 cùng đi tìm nhóm T6 để đánh thì cả hai đồng ý, trên đường đi ngang qua quán “Ba Lít” T9 và T4 ghé vào mỗi người lấy 02 vỏ chai bia bằng thủy tinh cầm trên 02 tay, rồi tất cả đi bộ đến nhà của Trần Thị A thuộc ấp B, xã B, huyện C thì phát hiện T6 đang ngồi nhậu chung với Nguyễn Văn H2, Huỳnh Thanh K1 (Hết), Trần Quốc V1, Nguyễn Thị Trúc M, Nguyễn Trọng H3 và nhiều người khác, thì H hô lên “Nó kìa, đánh nó” ngay tức khắc T9 và T4 dùng vỏ chai bia ném vào, đồng thời H cầm cây rựa trên tay phải xông vào chỗ H2 đang ngồi chém từ trên xuống, H2 đưa 02 tay lên đở làm trúng tay của H2 gây thương tích. Phúc L cầm dao tự chế chém trúng vào phía sau H3 nhưng chỉ gây sây sát nhẹ, T2 thì cầm đoạn gỗ vuông đứng bên ngoài. Lúc này, có người tri hô có công an đến, nên H, Phúc L, T2, T9 và T4 bỏ chạy, trên đường đi thì H, Phúc L và T2 ném bỏ hung khí.
Ngày 28/10/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố vụ án và thông báo truy tìm đối tượng gây án. Đến ngày 26/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố bị can đối với H, Phúc L, T9 và T4; ngày 11/3/2024, khởi tố bị can đối với T2. Riêng T9 sau khi sự việc xảy ra đã lẫn trốn khỏi địa phương, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C ra quyết định truy nã.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 298/14/TgT ngày 03/10/2014 của Trung tâm pháp y và Pháp y tâm thần tỉnh A, ghi nhận đối với Nguyễn Văn H2, sinh năm 1982 như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Sẹo cổ tay trái mặt lưng vòng bờ ngoài ra mặt lòng kích thước 10.5 x 0.6 cm, đứt gân cơ gấp cổ tay trụ, gân gấp nông sâu ngón IV, V, đứt gân duỗi các ngón, đứt động mách trụ - thần kinh trụ, gãy hở đầu dưới xương trụ - đã phẫu thuật khâu nối gân, thần kinh trụ, kết hợp xương trụ;
- Sẹo dọc mặt lòng đốt 2 - 3 ngón IV bàn tay phải kích thước 2.5 x 0.1 cm;
- Mất ngón V bàn tay phải.
2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 26% (Hai mươi sáu phần trăm).
Tang vật thu giữ trong vụ án: Không có.
Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:
- Bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2, Dương Phúc T4: Khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận hành vi phạm tội.
- Bị hại Nguyễn Văn H2 trình bày: Phù hợp nội dung vụ án. Sau khi sự việc xảy ra H đã thỏa thuận bồi thường cho H2 20.000.000 đồng, nên H2 bãi nại rút yêu cầu xử lý hình sự và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Ngoài ra, H2 xác nhận có nhận của T4 số tiền 3.000.000 đồng bồi thường, khắc phục hậu quả. H2 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H, Phúc L, T2 và T4.
- Người làm chứng Nguyễn Trọng H3 khai: Phù hợp với nội dung vụ án. Sau khi sự việc xảy ra H3 không bị thương tích, nên từ chối giám định thương tích, không yêu cầu xử lý hình sự và bồi thường thiệt hại.
- Lời khai của những người làm chứng: Nguyễn Văn P1, Lâm Ngọc T6, Trần Bá Vạn T7, Nguyễn Văn T8, Trần Thị A, Nguyễn Thị Trúc M, Hồ Hoàng H4, Nguyễn Thị Thúy Á, Trần Ngọc L3, Nguyễn Văn T3 khai phù hợp với nội dung vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 22/CT-VKS-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố. Các bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng, các bị cáo nhận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt. Đối với các bị cáo Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 xin được hưởng án treo.
Về bồi thường thiệt hại, bị cáo H khai đã tự nguyện bồi thường số tiền 20.000.000 đồng, số tiền này là của H nhờ anh ruột là Lâm Thế V giao cho H2. Bị cáo T4 khai đã tự nguyện bồi thường số tiền 3.000.000 đồng, số tiền này là của T4 nhờ chị ruột là Dương Thị H5 giao cho H2.
Bị hại Nguyễn Văn H2 trình bày phù hợp với nội dung vụ án. H2 thừa nhận đã nhận tiền bồi thường, khắc phục hậu quả của bị cáo H số tiền 20.000.000 đồng và của bị cáo T4 số tiền 3.000.000 đồng. H2 không yêu cầu xử lý hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo H, Phúc L, T2 và T4. H2 không yêu cầu bồi thường thiệt hại gì thêm.
Những người làm chứng có mặt tại phiên tòa gồm có: Nguyễn Trọng H3, Trần Bá Vạn T7, Nguyễn Văn T8, Trần Thị A, Hồ Hoàng H4, Nguyễn Thị Thúy Á, Trần Ngọc L3, Nguyễn Văn T3 trình bày lời khai phù hợp với lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với nội dung vụ án.
Người làm chứng Lâm Thế V khai số tiền 20.000.000 đồng bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Văn H2 là tiền của bị cáo H, ông V thay mặt H để giao số tiền này cho H2.
Bà Dương Thị H5, là chị ruột của bị cáo T4, có mặt tại phiên tòa và khai số tiền 3.000.000 đồng bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại Nguyễn Văn H2 là tiền của bị cáo T4, bà H5 có thay mặt T4 để giao số tiền này cho H2.
Người bào chữa cho các bị cáo Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4, Luật sư Nguyễn Phước H1 trình bày quan điểm bào chữa cho các bị cáo như sau:
Thống nhất với tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4. Tuy nhiên, cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo này như sau: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại ông Nguyễn Văn H2 không yêu cầu xử lý hình sự và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; các bị cáo đều phạm tội lần đầu, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, là thành phần lao động nghèo, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đối với bị cáo Phúc L và T2 còn là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏ. Đối với bị cáo T4 đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại ông Nguyễn Văn H2; bị cáo T4 đang mắc bệnh tiểu đường, đang được điều trị tiêm insulin và qua xét nghiệm còn có triệu chứng bệnh u gan. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Phúc L, T2 và T4 quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo T4 còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, đối với bị cáo Phúc L và T2 khi phạm tội là người dưới 18 tuổi nên đề nghị xem xét khoan hồng, áp dụng các chính sách có lợi cho người dưới 18 tuôi phạm tội.
Trong vụ án này, các bị cáo Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 tuy là đồng phạm với bị cáo Lâm Thế H, nhưng có vai trò không đáng kể, thứ yếu, các bị cáo còn rất trẻ tuổi nên đã nghe theo sự ru rê, lôi kéo của H; các bị cáo không trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại H2. Các bị cáo Phúc L, T2 và T4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và có khả năng tự cải tạo tốt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Phúc L, T2 và T4 được hưởng án treo cũng không gây hiểm cho xã hội, tạo điều kiện cho các bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt, sống có ích.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lâm Thế H từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Phúc L từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T2 từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 (Hai) năm đến 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Dương Phúc T4 từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H6) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm đến 04 (Bốn) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo H, bị cáo T4 và bị hại Nguyễn Văn H2 đã thỏa thuận bồi thường xong, H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Giải quyết theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người làm chứng Nguyễn Văn P1, Lâm Ngọc T6, Nguyễn Thị Trúc M vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai ở Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai nhận của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp nội dung vụ án nên việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ vào Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[1.3] Về luật áp dụng: Căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, thì hành vi phạm tội của các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 được áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giải quyết, do quy định khung hình phạt nhẹ hơn, có lợi cho các bị cáo.
[1.4] Tội phạm được thực hiện vào ngày 22/7/2014 nên thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn còn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 27 Bộ luật Hình sự.
[1.5] Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Lê Phúc L và Nguyễn Nhựt T2 đều là người dưới 18 tuổi, nhưng đến nay các bị cáo đều đã đủ 18 tuổi trở lên, người thân thích của các bị cáo đã nhờ luật sư bào chữa cho các bị cáo nên không cần thiết chỉ định người bào chữa cho các bị cáo.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/7/2014 và Biên bản thực nghiệm điều tra ngày 12/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 298/14/TgT ngày 03/10/2014 của Trung tâm pháp y và Pháp y tâm thần tỉnh A. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 22/7/2014, bị cáo Lâm Thế H và đồng phạm là Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2, Dương Phúc T4 đã có hành vi “dùng hung khí nguy hiểm” là cây rựa bằng kim loại, chém bị hại Nguyễn Văn H2 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26% (Hai mươi sáu phần trăm). Hành vi của Lâm Thế H xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt với Lâm Ngọc T6 (T6 Bánh mì) mà tìm nhóm của T6 để đánh nhau gây thương tích, nên hành vi của Lâm Thế H còn “có tính chất côn đồ”.
[2.2] Xét thấy, mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ. Các bị cáo H, Phúc L, T2 và T4 đều là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, có thể gây ra tổn thương cơ thể cho người khác nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi của các bị cáo H, Phúc L, T2 và T4 đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2.3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội nhận thấy:
Giữa các bị cáo H, Phúc L, T2, T4 và bị hại Nguyễn Văn H2 hoàn toàn không có mâu thuẫn từ trước, nhưng các bị cáo lại gây hấn đánh nhau; mặc dù bị hại H2 đã nói mình không liên quan đến nhóm của Lâm Ngọc T6 (T6 Bánh mì) nhưng bị cáo H vẫn chém gây thương tích cho H2. Hành vi của bị cáo H thể hiện sự hung hăng, quyết liệt khi thực hiện hành vi phạm tội, xem thường sức khỏe của người khác, từ đó cho thấy thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn tương xứng để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, có sự thống nhất ý chí, cố ý cùng thực hiện hành vi đánh nhau và chấp nhận hậu quả xảy ra khi đánh nhau. Đối với bị cáo H là người khởi xướng việc đánh nhau với nhóm của Lâm Ngọc T6; bị cáo H là người lôi kéo, kích động bị cáo Phúc L, T2 và T4 thực hiện hành vi phạm tội, thời điểm này Phúc L và T2 chưa đủ 18 tuổi, T4 chỉ vừa mới hơn 18 tuổi; chính bị cáo H là người trực tiếp chém gây thương tích cho H2 nên trong việc thực hiện hành vi phạm tội thì H có vai trò chính, vừa là người thực hành, vừa là người xúi giục các bị cáo khác thực hiện tội phạm.
Đối với bị cáo Phúc L và bị cáo T2 trực tiếp uống rượu chung với bị cáo H và cùng H tìm nhóm T6 Bánh mì để đánh. Bị cáo Phúc L cầm theo cây dao tự chế gắn đầu kim loại, bị cáo T2 cầm theo đoạn cây vuông, đây là hung khí nguy hiểm có thể gây nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo Phúc L trực tiếp cùng với H xông vào đánh nhau và chém trúng người của Nguyễn Trọng H3 gây thương tích nhẹ; mặc dù H3 bị thương tích không đáng kể, từ chối giám định nhưng cũng cho thấy sự tham gia đánh nhau quyết liệt của Phúc L; tuy nhiên, Phúc L không trực tiếp gây thương tích cho H2. Đối với bị cáo T2 có đi đánh nhau cùng với H nhưng T2 không trực tiếp xông vào đánh nhau mà đứng bên ngoài, vì T2 thấy H chém H2 chảy máu nên không dám xông vào; T2 không gây thương tích cho ai. Đối với bị cáo T4 không đi uống rượu chung với H nhưng khi H đi ngang nhà Tí M1 và rủ T4 đi đánh nhau với nhóm T6 Bánh mì thì T4 đồng ý đi cùng; T4 không mang theo sẵn hung khí mà dọc đường lượm 02 vỏ chai bia mang theo; khi H ra hiệu đánh nhau thì T4 ném 02 vỏ chai bia vào nhóm của T6 Bánh mì nhưng không trúng ai, T4 không trực tiếp xông vào đánh nhau và không gây thương tích cho ai.
Hội đồng xét xử xét thấy, cần áp dụng mức hình phạt của bị cáo H phải cao hơn các bị cáo còn lại. Bị cáo Phúc L, T2 và T4 là đồng phạm có vai trò không đáng kể. Hành vi của bị cáo Phúc L có tính chất nguy hiểm cao hơn bị cáo T4, nhưng do thời điểm phạm tội Phúc L dưới 18 tuổi, còn bị cáo T4 vừa hơn 18 tuổi nên cần áp dụng mức hình phạt của Phúc L tương đương với mức hình phạt của T4. Hành vi của bị cáo T2 có tính chất nguy hiểm thấp nhất nên cần áp dụng mức hình phạt của T2 thấp hơn các bị cáo còn lại.
[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo nhận thấy:
Đối với bị cáo H có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; đối với bị cáo Phúc L, T2 và T4 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đối với tình tiết dùng hung khí nguy hiểm và tình tiết có tính chất côn đồ đã áp dụng làm tình tiết định khung hình phạt nên không áp dụng là tình tiết tăng nặng.
Bị cáo H trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại H2 số tiền 20.000.000 đồng; được bị hại H2 xin giảm nhẹ hình phạt; H còn là lao động chính trong gia đình và có 02 con nhỏ sinh năm 2017 và 2020. Do đó, bị cáo H được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Phúc L trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; Phúc L còn là lao động chính trong gia đình và có 01 con nhỏ sinh năm 2019. Do đó, bị cáo Phúc L được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo Phúc L là người dưới 18 tuổi (tính đến ngày phạm tội bị cáo 17 tuổi 03 tháng 26 ngày) nên còn được xem xét khoan hồng, được áp dụng mức hình phạt tù không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Bị cáo T2 trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; T2 còn là lao động chính trong gia đình và có 01 con nhỏ sinh năm 2021. Do đó, bị cáo T2 được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo T2 là người dưới 18 tuổi (tính đến ngày phạm tội bị cáo 16 tuổi 08 tháng 14 ngày) nên còn được xem xét khoan hồng, được áp dụng mức hình phạt tù không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.
Bị cáo T4 trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại H2 số tiền 3.000.000 đồng; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Ngoài ra, bị cáo T4 đang mắc bệnh đái tháo đường, đang được điều trị tiêm insulin và có triệu chứng bệnh u gan. Do đó, bị cáo T4 được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo H tuy có 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo H lại có nhiều tình tiết tăng nặng và định khung nên Hội đồng xét xử không áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo H dưới mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[2.5] Hội đồng xét xử xét thấy, đối với các bị cáo Phúc L, T2 và T4 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Các bị cáo Phúc L, T2 và T4 phạm tội là do bị H rủ rê, lôi kéo và là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án; các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo, nếu không bắt các bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bị cáo Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 được hưởng án treo, thời gian thử thách bằng 02 lần mức hình phạt tù áp dụng đối với mỗi bị cáo và thời hạn được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với bị cáo Lâm Thế H thuộc trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
[2.6] Đối với Nguyễn Trọng H3 trong lúc đánh nhau bị sây sát nhẹ, H3 đã từ chối giám định thương tích và không yêu cầu xử lý hình sự, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về hành vi này là có căn cứ. Đối với Lâm Văn T9 (T) sau khi sự việc xảy ra đã lẫn trốn khỏi địa phương, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định truy nã và ra quyết định tách vụ án hình sự đối với bị cáo T9 là phù hợp, khi nào bắt được bị cáo T9 sẽ tiếp tục xử lý sau.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại Nguyễn Văn H2 đã thỏa thuận bồi thường xong, H2 không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm nên không xem xét.
[4] Về án phí: Các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Lâm Thế H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Lâm Thế H: 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 29 (Hai mươi chín) tháng 02 (Hai) năm 2024 (Hai không hai bốn).
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101, Điều 328 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Phúc L phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Lê Phúc L: 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Cho bị cáo Lê Phúc L được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/5/2024).
- Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Lê Phúc L tại phiên tòa.
- Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Lê Phúc L cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Lê Phúc L có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 91, Điều 101, Điều 328 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Nhựt T2 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhựt T2: 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Cho bị cáo Nguyễn Nhựt T2 được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/5/2024).
- Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Nguyễn Nhựt T2 tại phiên tòa.
- Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Nguyễn Nhựt T2 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Nguyễn Nhựt T2 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 17, Điều 38, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65, Điều 328 của Bộ luật Hình sự;
- Tuyên bố: Bị cáo Dương Phúc T4 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Xử phạt bị cáo Dương Phúc T4: 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Cho bị cáo Dương Phúc T4 được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (Ba) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 10/5/2024).
- Tuyên bố trả tự do cho bị cáo Dương Phúc T4 tại phiên tòa.
- Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Dương Phúc T4 cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Dương Phúc T4 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục đối với bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
(Đã giải thích quy định về án treo cho các bị cáo)
Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về án phí: Các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Lâm Thế H, Lê Phúc L, Nguyễn Nhựt T2 và Dương Phúc T4, bị hại Nguyễn Văn H2 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Đỗ Sơn Hùng Đoàn Văn Hiển |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Linh |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (criminal case)
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạt tù
