Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 26/2024/DS-PT Ngày: 10/01/2024
“V/v tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, đòi tài sản”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Chí Đức

Các Thẩm phán: Ông Lê Minh Đạt; Ông Lê Văn Phận

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Phiên – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 434/2023/TLPT-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, đòi tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 134/2023/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4413/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa:

  1. Nguyên đơn: Ông Đặng Chí H, sinh năm 1969; Trú tại: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Lê Tấn D – Văn phòng Luật sư Lê Tấn D, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.

  2. Bị đơn: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1968; Trú tại: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991; Trú tại: Ấp A, xã A, huyện M, tỉnh Bến Tre (theo văn bản ủy quyền ngày 09/11/2020).

Tại phiên tòa, ông H, anh N và Luật sư D có mặt.

  1. Người làm chứng:

    Người làm chứng do nguyên đơn tự triệu tập (có mặt tại phiên tòa):

    - Bà Đặng Thị P, sinh năm: 1966; Trú tại: Ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    - Bà Đặng Thị C, sinh năm: 1974; Trú tại: Ấp H, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  1. Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Đặng Chí H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2020, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đề ngày 24/8/2023, các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

Ông vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không bổ sung thêm. Tuy nhiên, do nhầm lẫn nên tại đơn khởi kiện đề ngày 15/10/2020 ông viết thửa đúng 185 thành thửa 158, nay ông thay đổi yêu cầu khởi kiện so với đơn khởi kiện là điều chỉnh từ thửa 158 tại đơn khởi kiện thành thửa 185.

Ông là em ruột của bà Đặng Thị L. Phần đất đang tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9 (theo bản đồ 299 thuộc một phần thửa 760, tờ bản đồ số 2), toạ lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre có nguồn gốc của cha mẹ, đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Đặng Văn T (cha ruột), sau đó cấp cho ông Đặng Chí T1 (anh ruột), sau khi ông T1 chết thì đất được cấp cho ông. Gia đình thống nhất cho bà L 2.000m2, diện tích còn lại là của ông nhưng để ông được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 760, bao gồm cả phần đất của bà L được cho. Ngày 23/9/2008, giữa ông và bà L thống nhất ký hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để ông giao trả lại cho bà L 2.000m2 đất của bà L, vị trí thửa đất như ông chỉ đo. Tuy nhiên, khi ông ký tên vào hợp đồng thì lúc này hợp đồng chưa viết nội dung, do tin tưởng nên ông tự nguyện ký tên, sau đó bà L tự viết diện tích tặng cho là toàn bộ thửa đất số 760 trong khi ông chỉ tặng cho lại bà L 2.000m2 và sau đó bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 185 (thửa đất 760 theo hồ sơ đo đạc chính quy gồm có thửa 160, 185, cùng tờ bản đồ số 9). Việc hợp đồng tặng cho thể hiện nội dung như trên là không đúng ý chí nguyện vọng của ông. Giữa ông và bà L ngoài việc ký hợp đồng tặng cho ngày 23/9/2008 thì giữa hai bên không có văn bản thoả thuận nào khác nên ông không cung cấp được chứng cứ chứng minh việc thoả thuận ông chỉ tặng cho bà L 2.000m2 đất như ông trình bày.

Ngoài ra, sau khi bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 185 thì bà L đã thế chấp quyền sử dụng đất để vay tiền tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 – Chi nhánh B – Phòng G. Tuy nhiên, bà L không có khả năng chi trả nên ông và bà Đặng Thị P đã đến Ngân hàng trả số tiền còn nợ là 31.367.298 đồng để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó: Tiền trả là của ông, bà P ký tên vào người trả và nhận lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng. Ông hoàn toàn không có vay tiền của bà L hay nhờ bà L vay số tiền nào của Ngân hàng.

Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 23/9/2008 giữa ông và bà Đặng Thị L đối với thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9 (theo bản đồ 299 thuộc một phần thửa 760, tờ bản đồ số 2), toạ lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre là vô hiệu. Ông chỉ đồng ý để bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 2.000m2 thuộc một phần thửa đất nêu trên. Theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện thửa đất tặng cho là thửa 760, tờ bản đồ số 2 (theo hồ sơ đo đạc chính quy gồm thửa 160, 185, cùng tờ bản đồ số 9). Tuy nhiên, hiện bà L chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 185 nên ông chỉ khởi kiện đối với thửa 185, không tranh chấp đối với thửa 160.
  • Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện M thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đặng Thị L số CH 03895 ngày 18/10/2018 đối với thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9, toạ lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Bà L đang sống ở phần đất đang tranh chấp, do phải đi làm ăn xa nên hiện ông sống tại Long An.
  • Buộc bà Đặng Thị L có nghĩa vụ hoàn trả cho ông số tiền 31.367.298 đồng mà ông đã trả nợ Ngân hàng thay cho bà L.

Ông rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với việc yêu cầu bà Đặng Thị L có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của ngôi nhà với số tiền 225.000.000 đồng. Lý do: Người đập phá ngôi nhà này là bà Đặng Thị M (chị ruột), ông Nguyễn Văn R (chồng bà M), ông Nguyễn Văn P1 (con bà M), ông Tấn D1 (anh bà con) và bốn người không biết rõ họ tên. Ông không thấy bà L đập phá. Khi ngôi nhà bị đập phá, ông có báo chính quyền địa phương nhưng không có lập biên bản, không có giám định thiệt hại. Số tiền trước đây ông yêu cầu là căn cứ vào tổng số tiền mua vật liệu xây dựng, nhân công lúc đầu. Ông sẽ khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại của ngôi nhà này trong một vụ kiện khác nếu có yêu cầu.

Ông đồng ý với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và trích lục, không có ý kiến gì khác.

Đối với kết quả trả lời của Phòng K – Công an tỉnh B thì ông thống nhất, không có ý kiến.

Tại bản tự khai và các lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:

Bà Đặng Thị L không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc của ông bà để lại, về quá trình biến động thửa đất như ông H trình bày là đúng. Trong thửa đất số 760, tờ bản đồ số 2, tọa lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre có 2.000m2 đất của bà L được cha mẹ cho, phần còn lại của ông H nhưng hai bên thống nhất để ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 760 (theo hồ sơ đo đạc chính quy gồm thửa 160, 185, tờ bản đồ số 9). Ngoài ra, bà L còn cho ông H vay tiền nhiều lần tổng cộng 180.000.000 đồng, không có viết biên nhận. Vì vậy, ông H thống nhất tặng cho bà L toàn bộ thửa đất số 760 (bao gồm 2.000m2 của bà L do ông H đứng tên dùm và phần đất còn lại của ông H), hợp đồng tặng cho được lập vào ngày 23/9/2008. Tại thời điểm ký hợp đồng, ông H có đầy đủ năng lực hành vi, tự nguyện ký và hợp đồng được Ủy ban nhân dân xã C2 đúng quy định pháp luật nên bà L không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H về việc tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này là vô hiệu. Đối với số tiền vay 180.000.000 đồng, hai bên chưa có thỏa thuận nào liên quan đến việc ông H tặng cho quyền sử dụng đất cho bà L. Trong trường hợp có yêu cầu đối với số tiền vay này bà L sẽ khởi kiện trong một vụ kiện khác.

Khi bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 185 thì ông H có nhờ bà L vay tiền dùm nên ông H có đến Ngân hàng trả số tiền 31.367.298 đồng để nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đó: Tiền trả là của ông H, bà Đặng Thị P ký tên vào người trả và nhận lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ Ngân hàng và không giao lại cho bà L. Tuy nhiên, bà L đã làm đơn báo mất và đã được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà không tranh chấp hay yêu cầu gì đối với Ngân hàng về việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng chủ quyền sử dụng đất. Những lần trả tiền trước đây, bà L trực tiếp trả cho Ngân hàng, số tiền còn lại ông H đã trả dùm bà L và đây là nghĩa vụ thuộc về bà L. Tuy nhiên, do bà L không có thỏa thuận nhờ ông H trả tiền Ngân hàng dùm và số tiền vay Ngân hàng cũng là tiền bà L vay dùm ông H nên bà L không đồng ý hoàn trả số tiền 31.367.298 đồng cho ông H. Việc bà L vay tiền dùm ông H, bà L không có chứng cứ chứng minh do là chị em trong gia đình.

Theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 23/9/2008 thì ông H tặng cho bà L toàn bộ thửa 760, tờ bản đồ số 2 (theo hồ sơ đo đạc chính quy gồm thửa 160, 185, tờ bản đồ số 9) nhưng hiện tại bà L chỉ mới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 185, đối với thửa 160 ông H vẫn còn đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, bà L không có tranh chấp trong vụ án này, nếu có yêu cầu bà L sẽ khởi kiện trong một vụ kiện khác.

Bị đơn đồng ý với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản và trích lục, không có ý kiến gì khác.

Đối với kết quả trả lời của Phòng K – Công an tỉnh B thì bị đơn thống nhất, không có ý kiến.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre đã quyết định:

Căn cứ vào các điều 26, 35, 39, 85, 147, 157, 227, 228, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 166, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 167, 168 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của ngôi nhà với số tiền 225.000.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc: Yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 23/9/2008 giữa bên tặng cho ông Đặng Chí H với bên nhận tặng cho bà Đặng Thị L đối với thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9 (theo bản đồ 299 thuộc một phần thửa đất số 760, tờ bản đồ số 9), tọa lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Yêu cầu kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện M thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đặng Thị L số CH 03895 ngày 18/10/2018 đối với thửa đất nêu trên. Đất hiện do bà L đang quản lý sử dụng.
  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc đòi tài sản. Buộc bà Đặng Thị L có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Đặng Chí H số tiền 31.367.298 đồng.

(Có kèm theo Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 31/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M là một bộ phận gắn liền, không thể tách rời của bản án)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 05/10/2023, nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cụ thể, tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 23/9/2008 vô hiệu, buộc bị đơn bồi thường thiệt hại của ngôi nhà với số tiền 225.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Người kháng cáo là nguyên đơn ông Đặng Chí H giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là anh Nguyễn Văn N không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm,

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Luật sư Lê Tấn D trình bày: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 23/9/2008 giữa ông Đặng Chí H và bà Đặng Thị L về việc tặng cho thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9, toạ lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre không thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do có sự nhầm lẫn. Bởi ý chí của ông H khi ký hợp đồng này chỉ là để tách cho bà L phần đất diện tích 2.000m2 thuộc một phần thửa đất nêu trên đúng theo di nguyện phân chia thừa kế của cha mẹ khi còn sống, không phải tặng cho bà L toàn bộ diện tích 4.090m2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 126 Bộ luật Dân sự tuyên bố hợp đồng tặng cho nêu trên là vô hiệu. Trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận tuyên bố hợp đồng vô hiệu do nhầm lẫn, nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử căn cứ Điều 124 Bộ luật Dân sự, tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu do giả tạo, bởi vì theo trình bày của phía bị đơn thì trước đây bị đơn có cho nguyên đơn vay 180.000.000 đồng nên nguyên đơn mới chuyển nhượng toàn bộ phần đất nêu trên cho bị đơn, việc hai bên lập hợp đồng tặng cho là nhằm mục đích trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm và đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đối với nội dung ông Đặng Chí H kháng cáo yêu cầu bà Đặng Thị L bồi thường thiệt hại của ngôi nhà với số tiền 225.000.000 đồng, thấy rằng:

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Đặng Chí H có yêu cầu rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu bà Đặng Thị L có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại đối với ngôi nhà bị đập phá với số tiền 225.000.000 đồng. Đây là một trong các quyền của đương sự được quy định tại các điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xét thấy, việc rút yêu cầu của ông Đặng Chí H là hoàn toàn tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ đối với yêu cầu này của ông Đặng Chí H là phù hợp. Ông Đặng Chí H có quyền khởi kiện lại bằng một vụ án.

[2] Xét kháng cáo của ông Đặng Chí H về việc yêu cầu tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 23/9/2008, thấy rằng:

Căn cứ chứng cứ là Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giao kết ngày 23/9/2008 giữa bên tặng cho là ông Đặng Chí H với bên được tặng cho là bà Đặng Thị L được chứng thực tại Ủy ban nhân xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre. Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật và hoàn toàn tự nguyện. Suốt quá trình giải quyết vụ án, cả ông H và bà L đều thừa nhận chữ ký, chữ viết họ tên trong hợp đồng này là của mình. Đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo nội dung của hợp đồng, ông Đặng Chí H đồng ý tặng cho bà Đặng Thị L phần đất thuộc thửa số 760, tờ bản đồ số 02, diện tích 4.090m2, tọa lạc tại ấp P, xã Đ, huyện M, tỉnh Bến Tre (nay thuộc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre) do ông Đặng Chí H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo hồ sơ đo đạc chính quy, thửa đất số 760 nêu trên nay là thửa 160, 185 cùng tờ bản đồ số 9.

Ông H cho rằng, khi ông ký tên vào hợp đồng này thì các nội dung trong hợp đồng được để trống và ý chí của ông là chỉ tặng cho bà L một phần của thửa đất số 760 với diện tích 2.000m2, đây cũng là phần mà bà L được hưởng theo sự thống nhất thỏa thuận của các thành viên trong gia đình. Tuy nhiên, sau đó bà L lại làm thủ tục cấp quyền sử dụng đất toàn bộ thửa đất số 185, dện tích 3.736,4m2 và đã được Ủy ban nhân dân huyện M cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/10/2018.

Xét thấy, ông H không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho việc giữa ông với bà L có thỏa thuận rằng ông chỉ tặng cho bà L diện tích đất là 2.000m2 của thửa 760, tờ bản đồ số 02 và phía bị đơn cũng không thừa nhận nội dung này. Ngoài ra, sau khi bà L được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã đem thế chấp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C1 – Chi nhánh B – Phòng G để đảm bảo cho khoản tiền vay của bà L, sau đó, do bà L không có khả năng trả nợ nên ngày 14/11/2011, ông H cùng bà Đặng Thị P (là chị ruột của ông H, bà L) đã đến Ngân hàng để trả số tiền nợ là 31.367.298 đồng thay cho bà L và nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi đó, ông H buộc phải biết bà L đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 3.736,4m2 nhưng ông H không có ý kiến gì.

Căn cứ vào các chứng cứ nêu trên, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Chí H về việc tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giao kết ngày 23/9/2008 giữa ông Đặng Chí H với bà Đặng Thị L là vô hiệu. Từ đó, không chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Chí H về việc yêu cầu kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện M thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đặng Thị L đối với thửa đất nêu trên.

[3] Xét ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên không chấp nhận.

Từ những nhận định và căn cứ trên, không chấp nhận kháng cáo nguyên đơn ông Đặng Chí H; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Tuy nhiên, tại phần nhận định của bản án sơ thẩm cho rằng toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là chưa chính xác. Bởi nguyên đơn khởi kiện về 03 quan hệ pháp luật tranh chấp, trong đó, tranh chấp về bồi thường thiệt hại do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện, Hội đồng xét xử sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này của nguyên đơn nên nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.625.000 đồng; Đối với tranh chấp về đòi tài sản, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí; Về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng đối với phần yêu cầu này. Tuy nhiên, thấy rằng, thiếu sót này không làm ảnh hưởng đến bản chất vụ án cũng như không làm xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, tại phần quyết định của bản án sơ thẩm về nghĩa vụ chịu án phí của các đương sự vẫn đảm bảo tính đúng đắn, phù hợp quy định của pháp luật, vì vậy thiếu sót này chỉ nêu ra để rút kinh nghiệm.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên đương sự kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Đặng Chí H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 134/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

Cụ thể tuyên:

Áp dụng các Điều 166, 500, 501, 502, 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 167, 168 của Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ các điều 26, 35, 39, 85, 147, 157, 227, 228, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Chí H về việc yêu cầu bị đơn bà Đặng Thị L có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của ngôi nhà với số tiền là 225.000.000 (hai trăm hai mươi lăm triệu) đồng.

    Ông Đặng Chí H có quyền khởi kiện lại bằng một vụ án.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Chí H về việc: Yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 23/9/2008 giữa bên tặng cho ông Đặng Chí H với bên nhận tặng cho bà Đặng Thị L về việc tặng cho thửa đất số 185, tờ bản đồ số 9 (theo bản đồ 299 thuộc một phần thửa số 760, tờ bản đồ số 9), tọa lạc ấp P, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre là vô hiệu; Yêu cầu kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Bến Tre thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đặng Thị L số CH 03895 ngày 18/10/2018 đối với thửa đất nêu trên.

    (Có Hồ sơ trích đo hiện trạng sử dụng đất ngày 31/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M, tỉnh Bến Tre kèm theo là một phần không thể tách rời của bản án này).

  3. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đặng Chí H về việc kiện đòi tài sản.

    Buộc bà Đặng Thị L có nghĩa vụ trả cho ông Đặng Chí H số tiền 31.367.298 (ba mươi mốt triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi tám) đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Chi phí tố tụng:

    Ông Đặng Chí H phải chịu toàn bộ chi phí đo đạc, định giá tài sản và trích lục với số tiền là 12.645.000 (mười hai triệu sáu trăm bốn mươi lăm nghìn) đồng. Ghi nhận ông H đã nộp xong.

  5. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Đặng Chí H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003022 ngày 26/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

    Trả lại cho ông Đặng Chí H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 784.000 (bảy trăm tám mươi bốn nghìn) đồng theo biên lai số 0003024 và 5.625.000 (năm triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0003023 cùng ngày 26/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre.

    Bà Đặng Thị L phải chịu 1.568.000 đồng (một triệu năm trăm sáu mươi tám nghìn) đồng và phải nộp đủ số tiền này.

  6. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Đặng Chí H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0001186 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre. Ông Đặng Chí H đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Mỏ Cày Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Nam;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, P. KTNV&THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Chí Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/DS-PT ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, đòi tài sản

  • Số bản án: 26/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản, đòi tài sản giữa ông Đặng Chí H với bà Đặng Thị L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger