|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 26/2024/HNGĐ-PT Ngày: 30-7-2024 “Tranh chấp về HNGĐ - ly hôn, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng
Các Thẩm phán: Ông Hứa Quang Thông;
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh: Bà Trần Thị Điểu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Tỉnh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLPT-HNGĐ, ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và tranh chấp chia tài sản chung khi ly hôn”.
Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 09/2024/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 2 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 346/2024/QĐXX-PT, ngày 20 tháng 5 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hoàng T, sinh năm 1975 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Lê Văn L - Văn phòng L2 thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ. (có mặt).
- Bị đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Khóm D, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Thị D: Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ C, khóm D, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng TMCP V (V1);
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1, sinh năm 1968, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông D1: Bà Thái Thị Hồng H, chức vụ: Phó Tổng giám đốc Trung tâm thu hồi nợ Khách hàng cá nhân – Khối quản trị rủi ro – Ngân hàng TMCP V (V1).
Ủy quyền lại cho ông Nguyễn Trường G - Chức vụ: Cán bộ xử lý nợ – V2 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1 H, phường B, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
2. Ủy ban nhân dân huyện H;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn K - Chủ tịch Ủy ban nhân huyện H (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
3. Chị Lê Thị Yến N, sinh năm 1995 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người kháng cáo: Bà Phan Thị D – Là bị đơn trong vụ án.
- Viện kiểm sát không kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Hoàng T trình bày:
Vào năm 1994 ông và bà Phan Thị D cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A vào năm 2002. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2020 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Nay mục đích hôn nhân không đạt được nên ông yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Ông Lê Hoàng T yêu cầu ly hôn với bà Phan Thị D;
- Về con chung có 02 con chung tên: Lê Thị Yến N, sinh ngày 08/3/1995 (đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết) và Lê Hoàng N1, sinh ngày 18/11/2006. Trước đây ông yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu vợ ông cấp dưỡng nuôi con. Nay ông thống nhất như ý kiến của vợ ông là để con chung tên Lê Hoàng N1 cho vợ ông tiếp tục nuôi dưỡng, ông đồng ý cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật đến khi Hoàng N1 đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Ông và vợ có trao đổi về phần tài sản chung nhưng vẫn chưa thống nhất được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung của vợ chồng có các tài sản gồm:
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số nền 07, tờ bản đồ: Lô 03, diện tích 114,62m², loại đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: Khu T, khu phố I, phường B, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H-04045 do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 23/8/2007; cập nhật thay đổi pháp lý qua tên Lê Hoàng T và Phan Thị D ngày 24/4/2018 hiện trên đất có căn nhà 05 tầng, kinh doanh nhà trọ. Tình trạng đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP V (V1);
- Quyền sử dụng đất có nhà gắn liền thuộc thửa số 156, tờ bản đồ số 15, diện tích 121,2m², loại đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: Thị trấn T, huyện H. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ là CH06576, do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 30/5/2019 đứng tên Lê Hoàng T;
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 163, tờ bản đồ số 15, diện tích 366,1m², loại đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: Thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CH07446 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/5/2020 đứng tên Lê Hoàng T;
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 70, diện tích 58m², loại đất ở đô thị có nhà tạm, địa chỉ thửa đất: Khóm A, phường A, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CS02510 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày18/6/2019; cập nhật thay đổi pháp lý qua tên Lê Hoàng T ngày 27/9/2019;
- Quyền sử dụng đất có nhà gắn liền thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 33, diện tích 100,0m², loại đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: Khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CS04438 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 31/3/2021 đứng tên Phan Thị Diễm .
Tổng giá trị các tài sản chung nêu trên tạm tính khoảng 6.000.000.000₫ (sáu tỷ đồng).
Ông yêu cầu chia đôi tài sản và yêu cầu nhận hiện vật là toàn bộ nhà, đất. Ông T đồng ý giao lại ½ giá trị tài sản cho bà Phan Thị Diễm .
Tại biên bản hòa giải ngày 09/11/2023 và tại phiên tòa hôm nay ông T yêu cầu chia đôi các tài sản chung nêu trên. Thống nhất tổng giá trị các tài sản chung nêu trên theo giá tại Chứng thư định giá số: 12/CT-VATA ngày 21/6/2023 của Công ty TNHH MTV Đ (VTAT) và Biên bản định giá của Hội đồng định giá huyện H, Hội đồng định giá thành phố H. Ông T yêu cầu chia đôi tài sản, ông T yêu cầu nhận hiện vật là toàn bộ nhà, đất, ông T đồng ý giao lại ½ giá trị tài sản cho bà Phan Thị Diễm .
- Về nợ chung: Vợ chồng ông có nợ Ngân hàng V (V2) số tiền 2.183.292.614₫ . Đối với số nợ này ông T yêu cầu chia đôi, ông T và bà D mỗi người trả ½ số nợ đối với số tiền vay còn lại của Ngân H1 (theo xác nhận của Ngân hàng). Ngoài ra còn nợ 52.116.000đ (năm mươi hai triệu một trăm mười sáu nghìn đồng), ghi nợ trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện H cấp, thuộc thửa số 156 tờ bản đồ số 15, diện tích 121,2 m² số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH06576 do ông đứng tên, địa chỉ thửa đất tại Thị trấn T, phần nợ này ông yêu cầu ai nhận phần đất này thì có nghĩa vụ nộp cho Ủy ban nhân huyện H khi đến hạn.
2. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Phan Thị D trình bày:
Vào năm 1994 bà và ông Lê Hoàng T cưới nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A vào năm 2002. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 10 năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, nay chồng bà yêu cầu ly hôn thì bà ý kiến như sau:
- Về hôn nhân: Bà đồng ý ly hôn với ông Lê Hoàng T.
- Về con chung có 02 con chung tên: Lê Thị Yến N, sinh ngày 08/3/1995 (đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết) và Lê Hoàng N1, sinh ngày 18/11/2006, bà D yêu cầu được nuôi con và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con đối với Hoàng N1. Hiện Lê Hoàng N1 đang học chương trình Trung học phổ thông, các chi phí học tập và sinh hoạt bình quân 01 tháng tính như sau :
| Học phí + tiền ăn ở trường ( trường bán trú ): | 5.000.000 đồng; |
| Học phí học thêm: | 4.500.000 đồng; |
| Thuê người đưa đón đi học và chăm sóc : | 6.000.000 đồng; |
| T2 ăn ở nhà: | 9.000.000 đồng; |
| Tiền điện, nước ở nhà: | 1.000.000 đồng; |
| Các khoản chi khác ( bệnh tật, quần áo, sách vở,) | 5.000.000 đồng; |
Tổng các khoản chi phí trên là: 30.500.000đ/tháng, ông T biết rõ các chi phí trên. Do đó bà yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 10.000.000đ/tháng (mười triệu đồng), cấp dưỡng một lần kể từ khi ông T khởi kiện từ tháng 5/2020 cho đến ngày Lê Hoàng N1 đủ 18 tuổi là 42 tháng = 420.000.000đ (Bốn trăm hai mươi triệu đồng).
- Về tài sản chung: Bà Phan Thị D ủy quyền cho chị Lâm Xuân Minh N2 đại diện trình bày: Bà D xác định vợ chồng có 05 tài sản gồm:
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số nền 07, tờ bản đồ: Lô 03, diện tích 114,62m², loại đất ở đô thị, tọa lạc tại thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Hiện trên đất có căn nhà 05 tầng, kinh doanh nhà trọ, đứng tên Lê Hoàng T và Phan Thị Diễm
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 156, tờ bản đồ số 15, diện tích 121,2m², loại đất ở đô thị, ở thị trấn T, huyện H đứng tên Lê Hoàng T.
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 163, tờ bản đồ số 15, diện tích 366,1m², loại đất ở đô thị, ở thị trấn T, huyện H, đứng tên Lê Hoàng T.
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 70, diện tích 58m², loại đất ở đô thị, ở phường A, thành phố H đứng tên ông Lê Hoàng T.
- Quyền sử dụng đất thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 33, diện tích 100,0m², loại đất ở đô thị, ở Phường A, thành phố H đứng tên Phan Thị Diễm
Nay bà Phan Thị D có yêu cầu phản tố như sau: Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông T về tài sản thì bà D không thống nhất. Bà D đề nghị Tòa án xem xét đến công sức đóng góp của bà D trong khối tài sản chung là: Từ năm 2013 đến năm 2020 (trước thời điểm dịch Covid-19 bùng phát), bà D là người tạo ra thu nhập từ việc kinh doanh phòng trọ tại địa chỉ: TTTM T, khu phố I, phường B thành phố H, tỉnh Kiên Giang. Từ nguồn thu nhập kinh doanh nêu trên, bà đã vay mượn thêm để mua các tài sản khác là các quyền sử dụng đất, sau đó cũng từ thu nhập trong việc kinh doanh, bà đã trả được các khoản nợ, mới có được các quyền sử dụng đất. Ngoài ra, bà còn đầu tư mua, bán bất động sản thành công nên có khối tài sản chung như hiện nay. Trong khi đó ông T chỉ tập trung cho tiêu xài cá nhân, cụ thể như việc ông T đã dùng vũ lực để chiếm lấy căn nhà mà mẹ con bà đang ở để cho người khác thuê, sử dụng riêng số tiền cho thuê. Hoặc việc ông T bán chiếc xe ô tô Toyota biển đăng ký 66A-103.19 với giá 155.000.000đ thông qua hợp đồng ủy quyền, sau đó bán lại cho người khác và chiếm đoạt số tiền trên để tiêu xài cá nhân. Như vậy, có thể thấy bà là người có công sức đóng góp rất lớn trong việc tạo lập ra khối tài sản chung này. Vì vậy, bà D cũng thống nhất ước tính giá trị tài sản tổng cộng 6.000.000.000₫, bà D đề nghị được hưởng 2/3 tài sản và yêu cầu được hưởng bằng hiện vật đồng ý trả 1/3 giá trị cho ông T là 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng).
· Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP V (V1); Do ông Nguyễn Thành L1 - Phó Tổng giám đốc trình bày ý kiến ngày 10/01/2022 như sau:
Ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị D đang có tài sản thế chấp tại V2 theo Hợp đồng thế chấp số LN1805300703950/ЛУГР/МУTC ngày 07/6/2/21 ( 2020) là quyền sử dụng đất theo chứng nhận Quyền sử dụng đất số A1453050, vào số cấp Giấy chứng nhận số H04045 do UBND thị xã H, tỉnh Kiên Giang cấp ngày 23/8/2007, cập nhật thay đổi thông tin chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 24/4/2018 và nhà ở gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở số 919003077201054 do UBND thị xã H (nay là Thành phố H), tỉnh Kiên Giang cấp ngày 12/11/2007, cập nhật chủ sở hữu/sử dụng lần cuối ngày 24/4/2018. Tài sản trên được dùng để bảo đảm cho khoản vay của ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị D tại V2 theo các Hợp đồng cho vay số LN1807130798019, LN1912121973453 và LN2010212922000. Do đó, V2 đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị D về việc chia tài sản chung vợ chồng đối với tài sản bảo đảm đang thế chấp tại V2 trên.
* Tòa án cấp sơ thẩm tuyên:
1. Về Hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị Diễm .
2.Về con chung:
- Chấp nhận sự tự nguyện của Lê Hoàng T: Giao cho bà Phan Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Lê Hoàng N1, sinh ngày 18/11/2006 đến khi Lê Hoàng N1 đủ 18 tuổi.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phan Thị D về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Lê Hoàng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Lê Hoàng N1, sinh ngày 18/11/2006 với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 01 tháng lương cơ bản tại thời điểm thi hành án kể từ tháng 01/2024 cho đến khi Lê Hoàng N1 đủ trưởng thành 18 tuổi.
Bà Phan Thị D cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Lê Hoàng T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
3. Về tài sản chung:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Hoàng T.
+ Ông Lê Hoàng T được quyền quản lý, sử dụng và sở hữu các tài sản gồm:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 156, tờ bản đồ số 15, diện tích 121,2m²; Mục đích sử dụng đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: thị trấn T, huyện H. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ là CH06576, do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 30/5/2019 đứng tên Lê Hoàng T.
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 163, tờ bản đồ số 15, diện tích 366,1m²; Mục đích dử dung đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CH07446 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp ngày 05/5/2020 đứng tên Lê Hoàng T; (Theo các mốc M1, M2, M3, M4, M5, M6, M7, M8, kèm theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất ngày 14/7/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H).
- Quyền sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 70, diện tích 58m²; Mục đích sử dụng đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: phường A, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CS02510 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 18/6/2019; cập nhật thay đổi pháp lý qua tên Lê Hoàng T ngày 27/9/2019. (Theo các Mốc 1,2,3,4,1 kèm theo sơ đồ đo đạc hiện trạng đất ngày 08/9/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố H).
· Buộc ông Lê Hoàng T có trách nhiệm giao lại cho bà Phan Thị D ½ giá trị của các Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 156, tờ bản đồ số 15, diện tích 121,2m²; Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 163, tờ bản đồ số 15, diện tích 366,1m²; địa chỉ thửa đất: thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp và Q sử dụng, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 32, tờ bản đồ số 70, diện tích 58m²; địa chỉ thửa đất: phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp, tổng cộng là 348.134.000₫ (Ba trăm bốn mươi tám triệu, một trăm ba mươi bốn nghìn đồng).
- Chấp nhận một phần yều cầu phản tố của bị đơn bà Phan Thị Diễm .
+ Bà Phan Thị D được quản lý sử dụng và sở hữu các tài sản gồm:
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở (Căn nhà 05 tầng kinh doanh nhà trọ và trang thiết bị trong nhà) và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số nền 07, tờ bản đồ: Lô 03, diện tích 114,62m²; Mục đích sử dụng đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: Khu T, khu phố I, phường B, thị xã H (nay là thành phố H), tỉnh Kiên Giang. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ H-04045 do Ủy ban nhân dân thị xã H cấp ngày 23/8/2007; cập nhật thay đổi pháp lý qua tên Lê Hoàng T và Phan Thị D ngày 24/4/2018, tình trạng đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP V (V1). (Theo hình 1,2,3,4,1 kèm theo Tờ trích đo địa chính số: TĐ 112-2022 nền 07-Lô 03 năm 2022 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố H).
- Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 33, diện tích 100,0m²; Mục đích sử dụng đất ở đô thị, địa chỉ thửa đất: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số vào sổ CS04438 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp ngày 31/3/2021 đứng tên Phan Thị Diễm . (Theo các Mốc 1,2,5,6,1 kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 08/9/2022 của chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố H).
· Buộc bà Phan Thị D có nghĩa vụ giao lại cho ông Lê Hoàng T ½ giá trị các Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số nền 07, tờ bản đồ: Lô 03, diện tích 114,62m²; địa chỉ thửa đất: Khu T, khu phố I, phường B, thành phố H, tỉnh Kiên Giang và Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thuộc thửa số 46, tờ bản đồ số 33, diện tích 100,0m², địa chỉ thửa đất: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp,tổng số tiền là 4.734.902.500đ (Bốn tỷ, bảy trăm ba mươi bốn triệu, chín trăm lẻ hai nghìn, năm trăm đồng).
Kể từ bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ông T và bà D có trách nhiệm đến cơ quan thẩm quyền làm thủ tục sang tên và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Bản chính) theo quy định của pháp luật.
4. Về nợ chung: Do Ngân hàng TMCP V (V2) và Ủy ban nhân dân huyện H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chậm trả, lệ phí, án phí và tuyên về quyền kháng cáo của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, Bà Phan Thị D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số: 09/2024/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự; yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm; trường hợp không khắc phục được các vi phạm tố tụng đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số: 09/2024/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn Ông Lê Hoàng T rút lại yêu cầu khởi kiện về phần chia tài sản chung để khởi kiện lại bằng vụ án khác, giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và cấp dưỡng nuôi con.
- Bị đơn bà Phan Thị D thống nhất với việc nguyên đơn ông T rút lại yêu cầu về phần chia tài sản chung. Bà D rút toàn bộ kháng cáo thống nhất với quyết định của bản án sơ thẩm về cấp dương nuôi con.
* Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Tỉnh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về nội dung: Do tại phiên tòa nguyên đơn đã tự nguyên rút một phần yêu cầu khởi kiện về phần chia tài sản chung, bị đơn đã rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử hủy đình chỉ một phần bản án sơ thẩm về phần chia tài sản chung, giữ nguyên các phần khác quyết định của bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hoàng T đối với bà Phan Thị D được Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bà D không đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án T3 thụ lý giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 38 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
- Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn Ông Lê Hoàng T tư nguyện rút lại yêu cầu về chia tài sản chung vợ chồng để khởi kiện lại trong vụ án khác. Về phần yêu cầu xin ly hôn, cấp dưỡng nuôi con thì thống nhất theo án sơ thẩm đã tuyên.
- Bị đơn bà Phan Thị D thống nhất với việc nguyên đơn ông T rút lại yêu cầu về phần chia tài sản chung.
Bà Phan Thị Diểm D2 đồng ý với việc ông T rút lại đơn khởi kiện về việc chia tài sản chung. Đồng thời bà cũng rút lại toàn bộ kháng cáo thống nhất với quyết định của bản án sơ thẩm về phần cấp dương nuôi con.
Xét thấy các đương sự tại phiên tòa đã thống nhất theo án sơ thẩm về phần Ly hôn và cấp dưỡng nuôi con và người kháng cáo đã rút lại kháng cáo nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần này.
Đối với phần chia tài sản chung vợ chồng thì nguyên đơn rút đơn khởi kiện và bị đơn đồng ý, đồng thời rút lại kháng cáo nên Hội đồng xét xử hủy 01 phần bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án về việc chia tài sản chung vợ chồng.
Đương sự được quyền khởi kiện lại vụ án chia tài sản chung khi ly hôn bằng vụ án khác. Được quyền nhận lại các tài liệu chứng cứ liên quan khi có yêu cầu.
Việc hủy án và đình chỉ xét xử phúc thẩm do các đương sự tự rút đơn và rút kháng cáo tại cấp phúc thẩm không phải lỗi của cấp sơ thẩm.
[3] Xét lời đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên chấp nhận.
[4] Về án phí:
- Án phí sơ thẩm:
+ Ông Lê Hoàng T phải chịu án phí sơ thẩm về hôn nhân và cấp dưỡng như bản án sơ thẩm đã tuyên.
+ Trả lại cho ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị D2 tiền tạm ứng án phí chia tài sản đã nộp, do có xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn và có đơn xin miễn giảm án phí.
- Án phí phúc thẩm: Bà Phan Thị D2 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí phúc thẩm.
[5] Về chi phí tố tụng các đương sự phải chịu như án sơ thẩm đã tuyên.
Các phần còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 28; khoản 4, khoản 5 điều 308, điểm b khoản 1 điều 299, khoản 2 Điều 289, điều 311, điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, 56, 59, 81, 82, 116 Luật HNGĐ; Điều 48 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
1. Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Diễm .
- Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 134/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 có hiệu lực pháp luật về phần Hôn nhân và cấp dưỡng nuôi con.
1.1 Về Hôn nhân: Công nhận sự tự nguyện thuận tình ly hôn giữa ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị Diễm .
1.2. Về con chung:
- Chấp nhận sự tự nguyện của ông Lê Hoàng T: Giao cho bà Phan Thị D2 tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung tên Lê Hoàng N1, sinh ngày 18/11/2006 đến khi Lê Hoàng N1 đủ 18 tuổi.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Phan Thị D2 về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông Lê Hoàng T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con Lê Hoàng N1, sinh ngày 18/11/2006 với mức cấp dưỡng mỗi tháng là 01 tháng lương cơ bản tại thời điểm thi hành án kể từ tháng 01/2024 cho đến khi Lê Hoàng N1 đủ trưởng thành 18 tuổi.
Bà Phan Thị D2 cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông Lê Hoàng T trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.
2. Hủy một phần bản án hôn nhân sơ thẩm số 134/2023/HNGĐ-ST ngày 30/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự và đình chỉ giải quyết vụ án về phần chia tài sản chung.
3. Về án phí và chi phí tố tụng:
* Về án phí sơ thẩm:
- Buộc ông Lê Hoàng T phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình, 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án đã nộp 300.000đ theo biên lai số 0006310 ngày 11 tháng 11 năm 2021, ông T phải nộp tiếp số tiền 300.000 đồng.
- Ông Lê Hoàng T được nhận lại 46.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0006552 ngày 18/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự.
- Bà Phan Thị D2 được nhận lại số tiền tạm ứng án đã nộp 56.000.000đ (Năm mươi sáu triệu đồng) theo biên lai số 0006430 ngày 15 tháng 12 năm 2021.
* Về án phí phúc thẩm: Bà Phan Thị D2 phải chịu án phí phúc thẩm và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0001990 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Hồng Ngự.
* Về chi phí tố tụng: Tổng số tiền là 44.722.000đ (Bốn mươi bốn triệu, bảy trăm hai mươi hai nghìn đồng). Ông Lê Hoàng T và bà Phan Thị D2 mỗi người chịu 50% là 22.361.000₫ (Hai mươi hai triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng). Ông T đã tạm ứng số tiền 44.722.000đ. Do đó, bà Phan Thị D2 có trách nhiệm nộp số tiền 22.361.000đ (hai mươi hai triệu, ba trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) để trả lại cho ông Lê Hoàng T.
4. Các phần còn lại của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Tùng |
Bản án số 26/2024/HNGĐ-PT ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hngđ - ly hôn, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Số bản án: 26/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về HNGĐ - ly hôn, cấp dưỡng nuôi con, chia tài sản chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: .
