TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HSST Ngày: 09/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huế.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Lương và ông Lê Văn Hướng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (Số E đường Đ, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân Linh T; sinh ngày 10/9/1993 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Thôn V- N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1965; con bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Thúy T3; sinh năm 1993; con: Có hai con, lớn 7 tuổi, nhỏ 4 tuổi. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 28/02/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Bị hại: Chị Lê Thị H, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt có đơn xin xét xử.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê C, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn M, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Sanh T4, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn V - N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1984; Địa chỉ: Thôn G, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị T2 sinh năm 1969; Địa chỉ: Thôn V - N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 29/10/2023, chị Lê Thị H nhờ chồng là anh Nguyễn Văn B đem xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS: 75FA-8685 đến tiệm sửa xe của anh Nguyễn Sanh T4 để sửa chữa. Khi đến quán, anh B nói với anh T4 sửa chữa xong cứ để xe ở quán rồi anh B sẽ đến lấy mà không giao trách nhiệm quản lý tài sản. Sau khi sửa xong, anh T4 dắt xe BKS: 75FA-8685 để ở trước quán cà phê N (cạnh tiệm sửa xe) có cắm sẵn chìa khoá trên xe rồi về nhà. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Xuân L T đi bộ qua quán cà phê, phát hiện xe mô tô BKS: 75FA-8685 dựng ở trước quán cà phê N, trên xe có cắm chìa khoá xe nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Quan sát xung quanh không có ai nên lấy trộm xe mô tô điều khiển vào thành phố H ngồi nhậu một mình. Đến tối thì về lại nhà ở thôn V - N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do không biết chỗ tiêu thụ xe và lo sợ bị phát hiện nên T cất giấu chiếc xe ở nhà. Khoảng 16 giờ cùng ngày, chị H đến lấy xe nhưng không có và tìm hiểu thì được biết chiếc xe đã bị mất nên trình báo với công an xã H, thị xã H vào ngày 17/01/2024. Đến ngày 18/01/2024, biết hành vi của mình đã bị phát hiện nên Nguyễn Xuân L T đến công an xã H đầu thú về hành vi trộm cắp tài sản.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân Linh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
01 xe mô tô Honda BKS: 75FA-8685.
Xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra xác định xe mô tô Honda BKS: 75FA-8685 do ông Lê C đứng tên chủ sở hữu, đến năm 2023 ông C tặng cho chiếc xe này cho chị Lê Thị H nên Cơ quan CSĐT Công an thị xã H đã trả lại cho chủ sở hữu Lê Thị H.
Tại bản Kết luận định giá số: 08 ngày 27 tháng 01 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H đã kết luận: xe mô tô Honda BKS: 75FA-8685 tại thời điểm chiếm đoạt ngày 29/10/2023 là 3.500.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là chị Lê Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS ngày 14/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Linh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân Linh T từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12-18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Căn cứ điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo thủ tục chung.
[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về tội danh: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận: Do cần tiền để tiêu xài nên vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/10/2023, tại thôn V - N, xã H, thị xã H, tỉnh Thừa ThiênHuế, Nguyễn Xuân Linh T đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda BKS: 75FA-8685 của chị Lê Thị H có giá trị 3.500.000đồng. Hành vi của T lén lút trộm cắp tài sản có giá trị trên 2.000.000 đồng đã cấu thành thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Xuân Linh T là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hình phạt:
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo nhằm mục đích hưởng lợi bất chính, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nhất là trong tình hình tội phạm này càng gia tăng và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chung tại địa bàn thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Nhận thấy bị cáo có thể tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho bị cáo hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương cùng gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách, là phù hợp, đảm bảo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe mô tô Honda BKS: 75FA-8685, có giấy đăng ký đứng tên ông Lê C, ông C xác định đã chuyển giao quyền sở hữu cho chị Lê Thị H nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên theo quy định của pháp luật. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị hại là đúng pháp luật, tại phiên tòa không có ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị T2 không biết xe mô tô Honda BKS: 75FA-8685 do T phạm tội mà có nên không có cơ sở xử lý về hành vi Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại là chị Lê Thị H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Xuân Linh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Linh T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Xuân Linh T cho Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Nguyễn Xuân Linh T cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Xuân Linh T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân L T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Huế |
Bản án số 26/2024/HSST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG TRÀ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TCTS
