Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN BÀN

TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc.

Bản án số: 26/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/7/2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Vĩnh Thái;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Trọng Trung và ông Đàm Sông Hương;

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Nông Thị Mới - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST-HNGĐ Ngày 22/3/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số:11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trương Thị D, sinh năm 1999. Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Sầm Văn T, sinh năm 1996. Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt không có lý do lần 02)

- Người làm chứng:

  • + Chị Sầm Thị H, sinh năm 1999. Địa chỉ: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt không có lý do);
  • + Ông La Văn H1 - Trưởng thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Trương Thị D trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Sầm Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13/5/2020 tại UBND xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 10 năm 2021, chị đã đưa con là cháu Sầm Anh T1, sinh ngày 13/6/2020 về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở thôn C M, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai và sống ly thân với anh T. Đến nay, chị nhận thấy vợ chồng đã sống ly thân thời gian dài tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn giải quyết cho chị được ly hôn với anh Sầm Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Sầm Anh T1, sinh ngày 13/6/2020. Chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị không yêu cầu anh Sầm Văn T phải cấp dưỡng tiền nuôi cháu T1.

Về tài sản chung: Chị và anh Sầm Văn T tự thỏa thuận, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về vay nợ chung: Vợ chồng không cho ai vay nợ và không vay nợ ai nên chị tôi không đề nghị Toà án giải quyết.

Đối với Bị đơn anh Sầm Văn T :

Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã M, làm việc với trưởng thôn 2 Minh Hạ, xã M và em gái ruột của anh Sầm Văn T là chị Sầm Thị H2 (Chị H2 sống cùng nhà với anh T) xác định được: Anh Sầm Văn T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai, anh T chưa làm thủ tục thay đổi nơi cư trú đi đâu. Tại thời điểm Tòa án đến tống đạt thì anh T vắng mặt tại nơi cư trú nhưng anh không thông báo cho gia đình, chính quyền địa phương biết anh đang ở đâu, làm gì, tuy nhiên anh vẫn thường xuyên liên lạc, gọi điện về cho gia đình và khoảng nửa tháng anh T có trở về địa phương một lần. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn anh Sầm Văn T và tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Quá trình giải quyết vụ án, chị Sầm Thị H2 xác nhận đã thông báo các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh T biết nhưng anh không có ý kiến và không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì.

Tại phiên Tòa:

Nguyên đơn chị Trương Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án. Bị đơn anh Sầm Văn T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do lần thứ hai;

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của bộ luật tố tụng dân sự;

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án giải quyết theo hướng: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D được ly hôn với anh Sầm Văn T.
  • - Về nuôi con chung: Chị Trương Thị D được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sầm Anh T1, sinh ngày 13/6/2020 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Sầm Văn T không phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
  • - Về án phí và quyền kháng cáo đề nghị tuyên theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về Tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Trương Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn với anh Sầm Văn T, sinh năm 1996. Nơi Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn B, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và quan hệ pháp luật là “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn chị Trương Thị D có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Sầm Văn T vắng mặt không có lý do lần thứ hai; người làm chứng vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Theo lời khai của nguyên đơn chị Trương Thị D, lời khai của người làm chứng, xác minh tại chính quyền địa phương có đủ căn cứ xác định: Chị Trương Thị D và anh Sầm Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 13/5/2020 tại UBND xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng một năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách, vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Từ tháng 10 năm 2021, chị D đã đưa con là cháu Sầm Anh T1, sinh ngày 13/6/2020 về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ ở thôn C M, xã M, huyện V, tỉnh Lào Cai và sống ly thân với anh T đến nay. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định cuộc hôn nhân của chị D và anh T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị D về việc ly hôn với anh Sầm Văn T là đúng quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về nuôi con và cấp dưỡng tiền nuôi con:

Hội đồng xét xử xét thấy kể từ khi vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2021 đến nay thì chị D là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Sầm Anh T1. Bản thân chị D có thu nhập từ 5.000.000₫ đến 6.000.000đ/tháng đủ để nuôi dưỡng cháu. Vì vậy, Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, cần giao cháu Sầm Anh T1 cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình. Chị D không yêu cầu anh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung vì vậy hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết là phù hợp.

[4] Về tài sản chung, vay nợ chung: Nguyên đơn chị D không có yêu cầu nên Tòa án không giải quyết là phù hợp.

[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Trương Thị D phải chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.

[6] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Bàn về hướng giải quyết vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 238; Khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị D:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị D được ly hôn với anh Sầm Văn T. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Chị Trương Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Sầm Anh T1, sinh ngày 13/6/2020 cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Sầm Văn T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

2. Về án phí: Chị Trương Thị D phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001446 ngày 22/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Bàn. Chị Trương Thị D đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Sầm Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - VKSND huyện;
  • - Sở tư pháp;
  • - UBND xã Minh Lương;
  • - Chi cục THADS;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, LĐ, TP, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Vĩnh Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2024/HNGĐ-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 26/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Thị D - Sầm Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger