TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 26/2024/HSST Ngày: 09/5/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN- TỈNH THANH HOÁ
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hà Thị Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Ngọc Trọng
Ông Nguyễn Viết Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Huy- Thư ký tòa án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên toà: Ông Hà Quang Lộc - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 04/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Hà Văn K; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2003, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hà Văn T; Con bà: Hà Thị T1; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là đầu; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/12/2020 bị TAND quận Hà Đông, TP Hà Nội xử phạt 8 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/8/2023 đến ngày 16/8/2023 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ, thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”
- Ngân Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 2001, tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã V, huyện B, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vân: 07/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ngân Văn P; Con bà: Lương Thị X; Gia đình bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con út; Vợ: Đặng Thị C; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. “Có mặt tại phiên tòa”.
- Người bào chữa cho bị cáo H và K: Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Thanh Hóa. “Có mặt tại phiên tòa"
Người bị hại: Anh Hoàng Văn T3, sinh năm: 1999. “Vắng mặt”
Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hoa
Người làm chứng:
Anh Trịnh Đức T4, SN: 1992. “Vắng mặt”
Nguyễn Văn B – SN: 1990. “Vắng mặt”
Nguyễn Ngọc V – SN: 1997. “Vắng mặt”
Cùng địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 07/8/2023, Hà Văn K và Ngân Văn H đang làm giàn giáo trên tầng 4 dãy nhà ODK4 trong công trình V thuộc thôn B, xã Q, thành phố S thì làm rơi đất cát xuống khu vực phía tầng dưới (tầng 3) nơi nhóm thợ gồm: Trịnh Đức T4, Hoàng Văn T3, Nguyễn Ngọc V, Nguyễn Văn B đang trát tường nên giữa K, H với nhóm T4 xảy ra mâu thuẫn thách thức đánh nhau. Khoảng 10h cùng ngày sau khi hết ca làm thì H và K xuống tầng 1 để đi về, trong lúc H ngồi đợi K ra bãi xe lấy xe máy thì T4 đứng trên tầng nói xuống thách thức H, hai bên hẹn đánh nhau ngoài cổng công trình. T4 cùng Văn đi xuống tầng 1, hai bên lời qua tiếng lại thì H nhặt thanh sắt dạng chữ “V”, còn V cầm gậy sắt dạng khung dàn giáo đánh nhau với H nhưng bị H lùa đuổi chạy vào công trình. H vụt 01 phát trúng vào người V gây ra vết thương rách da kích thước (6x1,5)cm tại cẳng tay trái. V bỏ chạy nên H dừng lại. Sau đó, K đi xe máy đến đưa H về nhà trọ.
Đến phòng trọ, do đã hẹn đánh nhau ngoài cổng công trình với nhóm thợ xây trát nên H rủ K mang theo hung khí để quay lại đánh nhau. K vào phòng ngủ lấy dưới gầm giường 01 con dao dạng tự chế dài 60cm, bản rộng 05cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn. Còn H cầm thanh sắt “V” đã dùng đánh nhau trước đó với V. H bảo K lấy áo lao động cuộn dao lại không cho mọi người phát hiện. Còn H dùng áo phong cọc tay quấn vào thanh sắt V. Sau đó, H chở K đi xe máy ra cổng công trình Văn P1 ngồi quán nước đầu cổng đợi nhóm của T4.
Đến khoảng 10h15' cùng ngày, nhóm thợ xây trát gồm: T4, B, T3, V từ trong công trình đi ra trong đó T3, V mang theo xẻng. Bảy đi lại nói chuyện với H và K hẹn chiều nói chuyện với đầu cánh để giảng hòa thì H, K đồng ý ra về. Khi H, K đi được khoảng 10m thì trong nhóm thợ xây trát có người nói thách thức “nói chuyện với bọn này làm gì, đánh chết mẹ nó đi, va luôn đi”. Nghe vậy, H hô “1,2,3 lên” để K cùng H xông lên đánh nhau với nhóm thợ xây trát. K cầm dao tự chế lao lên đánh nhau với T3 đang cầm xẻng. K cầm dao bằng tay trái chém 01 nhát trúng mặt sau cẳng tay phải của T3. T3 quay lưng chạy thì bị K đuổi theo cầm dao chém, T3 giơ xẻng lên đỡ thì bị trúng vào ngón 2 bàn tay phải. Kiệt vung tay chém tiếp nhát thứ 3 trúng vào vùng khuỷu tay trái của T3. T3 cầm xẻng vụt lại trúng vùng thắt lưng bên phải của Hà Văn K.
Còn H cầm thanh sắt “V” xông vào đánh nhau với V cầm xẻng. V cầm xẻng vụt về phía H nhưng không trúng, xẻng đập xuống đường nên lưỡi xẻng bị gãy rơi còn lại phần cán xẻng bằng gậy tre. V cầm cán xẻng vụt nhiều cái vào người H gây ra các vết thương tại vùng bả vai trái, lưng trái, tay trái, đùi trái, đầu gối trái. Sau đó, được mọi người can ngăn nên H, K đi về. T3 được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh T.
* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 20 giờ, ngày 07/8/2023 tại Biện viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, Hoàng Văn T3 bị các vết thương: Vết thương 1/3 trên mặt sau cẳng tay phải, rách da, đã khâu kích thước 10x0,5cm, rỉ máu; vết thương mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái và vùng khuỷu tay trái có vết thương rách da, đã khâu, kích thước 5x0,2cm, rỉ máu; vết thương đốt xa ngón 2 bàn tay phải, rách da, đứt rời còn bám dính da, đã khâu, kích thước 5x0,2cm, rỉ máu. Hoàng Văn T3 điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh T từ ngày 07/8/2023 đến ngày 21/8/2023 thì ra viện.
- Tại bản kết luận giám định tổn thương có thể trên người sống số: 1430/KLTTCT-PYTH ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Văn T3 tại thời điểm giám định là 13% (Mười ba phần trăm).
Cơ chế hình thành thương tích của Hoàng Văn T3:
- + Vết thương vùng khuỷu tay trái, bờ mép vết thương sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm và mẻ 1/3 trên xương trụ trái; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau ngoài khuỷu tay trái và hình ảnh mẻ 1/3 trên xương trụ trái đang can xương.
- + Vết thương vùng khuỷu tay phải, bờ mép vết thương sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm; đã được điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mặt sau ngoài khuỷu tay phải đến 1/3 trên mặt sau ngoài cẳng tay phải.
- + Ngón trỏ bàn tay phải bị đứt lìa đốt 2, bờ mép sắc gọn: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Gây tổn thương rách da, cơ, mô mềm và vỡ đầu gân đốt 3 ngón II bàn tay phải; đã đuộc điều trị; hiện tại còn di chứng sẹo vết thương phần mềm vùng mu đốt 3 ngón II bàn tay phải và hình ảnh vỡ đầu gân đốt 3 ngón II bàn tay phải.
- + Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.
- + Nếu sử dụng con dao tự chế có đặc điểm như đã ghi nhận trong quyết định trưng cầu giám định số 285/QĐ-CQCSĐT, ngày 08/8/2023 của Cơ quan CSĐT Công an T9, tỉnh Thanh Hóa làm vật gây thương tích tác động vào cơ thể của Hoàng Văn T3 thì có thể gây nên thương tích đối với Hoàng Văn T3 như ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp.
* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 19 giờ 30 phút, ngày 07/8/2023 tại công an xã Q, thành phố S, Ngân Văn H bị vết thương: 01 vết tấy đỏ trong diện (22x7)cm tại vùng bả vai bên trái; 01 vết tấy đỏ tại vị trí lưng bên trái, kích thước (9x2)cm; 01 vết tấy đỏ tại vị trí lưng bên trái, kích thước (12x2)cm; 01 vết tấy đỏ tại vị trí đùi bên trái trong diện (18x7)cm; 01 vết tấy đỏ tại vị trí trên đầu gối trái kích thước (7x2)cm; 01 vết tấy đỏ tại vị trí mặt ngoài cẳng tay trái, kích thước (5x2,5)cm. Tại bản kết luận giám định tổn thương có thể trên người sống số: 1463/KLTTCT-PYTH ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngân Văn H tại thời điểm giám định là 01% (Một phần trăm).
* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 09 giờ 20 phút, ngày 08/8/2023 tại công an thành phố T9, Nguyễn Ngọc V bị vết thương: 01 vết thương rách da hình chữ V tại vị trí dưới cẳng tay trái, kích thước 6x1,5cm. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 1431/KLTTCT-PYTH ngày 11/8/2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc V tại thời điểm giám định là 02% (Hai phần trăm).
* Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể hồi 19 giờ 40 phút, ngày 07/8/2023 tại công an xã Q, thành phố S, Hà Văn K bị vết thương: 01 vết tấy đỏ kích thước 10x5cm tại vùng thắt lưng bên phải. Tại bản kết luận giám định tổn thương có thể trên người sống số: 1464/KLTTCT-PYTH ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hà Văn K tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm).
Về vật chứng vụ án: 01 gậy tre, màu vàng nâu, dài 90cm, đường kính dài 3,5cm; 01 con dao loại dao tự chế dài 60cm, bản rộng 05cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn; 01 áo lao động màu xanh - đỏ - cam có tên logo “CDC”, cổ áo có chữ “K-K”, màu trắng; 01 áo phong cọc tay cổ tròn, màu đen, tay áo màu vàng được chuyển đến chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn để xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với thanh sắt “V” và lưỡi xẻng bị cáo H và anh V sử dụng để đánh nhau, các vật chứng này bị cáo H và anh Văn đã vứt ở dọc đường khi đánh nhau, không nhớ vứt ở đâu. Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Hà Văn K và Ngân Văn H đã bồi thường cho Hoàng Văn T3 tổng số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng). Anh T3 có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hà Văn K, Ngân Văn H.
Hà Văn K và Ngân Văn H đã bồi thường cho Nguyễn Ngọc V tổng số tiền 1.000.000đ. Anh V có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hà Văn K, Ngân Văn H.
Hà Văn K và Ngân Văn H đều có đơn đề nghị rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự và từ chối nhận bồi thường dân sự đối với Hoàng Văn T3, Nguyễn Ngọc V đã gây thương tích đối với mình.
Đối với hành vi Ngân Văn H sử dụng thanh sắt “V” đánh gây thương tích cho Nguyễn Ngọc V với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%. Hoàng Văn T3 sử dụng xẻng đánh gây thương tích cho Hà Văn K với tỷ lệ tổn thương cơ thể 0%. Nguyễn Ngọc V sử dụng xẻng đánh gây thương tích cho Ngân Văn H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%. Văn, K, H đã tự nguyện thỏa thuận dân sự, có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 05/1/2024 Công an T9 đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với H. Ngày 07/2/2024 Công an T9 đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 5 Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính Phủ đối với V,T3.
Về việc hai nhóm đối tượng sử dụng hung khí là dao tự chế, thanh sắt “V”, xẻng đánh nhau ở trước cổng công ty V2 thuộc thôn B, xã Q, TP S, tỉnh Thanh Hóa. Sự việc diễn ra vào thời điểm gần trưa, thời gian diễn ra sự việc ngắn, khu vực gần công trường đang xây dựng nên ít người qua lại, không làm ảnh hưởng đến sự di chuyển bình thường của các phương tiện giao thông, nên chưa gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự công cộng tại địa phương. Vì vậy, không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự các đối tượng về hành vi này.
Tại bản Cáo trạng số 22/CTr-VKS-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn truy tố các bị cáo Hà Văn K và Ngân Văn H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS.
Tại phiên tòa: Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b,s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 BLHS đề nghị xử phạt bị cáo Ngân Văn H mức hình phạt từ 24 tháng đến 26 tháng tù, bị cáo Hà Văn K mức hình phạt từ 27 tháng đến 30 tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy: 01 gậy tre, màu vàng nâu, dài 90cm, đường kính dài 3,5cm; 01 con dao loại dao tự chế dài 60cm, bản rộng 05cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn; 01 áo lao động màu xanh - đỏ - cam có tên logo “CDC”, cổ áo có chữ “K-K”, màu trắng; 01 áo phong cọc tay cổ tròn, màu đen, tay áo màu vàng là các phương tiện phạm tội.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét căn cứ các quy định của pháp luật để xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo vì các bị cáo là người dân tộc nhận thức còn thấp nên mới dẫn tới việc phạm tội và các bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại đã có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo Ngân Văn H, Hà Văn K đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị hại đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, việc vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử của vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai của bị hạiphù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được trong quá trình điều tra và các vật chứng thu được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ và cơ sở để kết luận:
Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 07/8/2024 tại công trình V thuộc thôn B, xã Q, TP S, do có mâu thuẫn trong quá trình thi công, nên Ngân Văn H đem theo thanh sắt “V”, rủ Hà Văn K mang theo dao để đi đánh nhau với nhóm của Hoàng Văn T3, Nguyễn Ngọc V. Khi gặp do bị khiêu khích, nên H đã hô “một, hai, ba lên”, mục đích để cả hai bị cáo cùng xông lên đánh nhóm của T3, V. H cầm thanh sắt đánh nhau với V, còn K cầm dao chém vào tay T3 gây tỷ lệ tổn thương cơ thể 13% cho anh T3.
Bị cáo H đã dùng thanh sắt “V” rủ rê, kích động để cho bị cáo K dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 13%. Vì vậy, hành vi của bị cáo Ngân Văn H, Hà Văn K phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Tính chất vụ án: Xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân, được sự kích động của bị cáo H, bị cáo K đã dùng dao chém vào tay bị hại gây tổn hại 13% về sức khỏe cho anh T3. Hành vi của các bị cáo không những nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân nên cần phải xử lý nghiêm minh để giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét vị trí, vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn bởi các bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội, không có sự bàn bạc, thống nhất trước. Bị cáo H là người rủ rê bị cáo K đi đánh nhau, kích động bị cáo K xông lên đánh nhau nhưng bị cáo K laị là người trực tiếp dùng dao chém gây nên thương tích cho bị hại nên có vai trò đầu vụ. Do đó bị cáo K cần có mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo H.
[5] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Hà Văn K có nhân thân xấu đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nhưng vẫn không chịu cải sửa mà còn tiếp tục phạm tội, còn bị cáo Ngân Văn H mặc dù chưa có tiền án, tiền sự nhưng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, Bị cáo Ngân Văn H, Hà Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại, bị hại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự với hai bị cáo, các bị cáo là người dân tộc, bị cáo K đã đầu thú. Nên các bị cáo được Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51BLHS để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
[6] Về phần bồi thường dân sự: Bị hại anh Hoàng Văn T3 đã được bồi thường toàn bộ thiệt hại và không yêu cầu gì thêm nên công nhận phần dân sự giữa các bị cáo và bị hại đã được giải quyết xong.
[7] Về vật chứng: 01 gậy tre dài 90cm, đường kính dài 3,5cm; 01 con dao loại dao tự chế dài 60cm, bản rộng 05cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn; 01 áo lao động màu xanh - đỏ - cam có tên logo “CDC”, cổ áo có chữ “K-K”, màu trắng; 01 áo phông cọc tay cổ tròn, màu đen, tay áo màu vàng là các phương tiện dùng vào việc phạm tội nhưng không còn giá trị sử dụng nên căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Mỗi Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: điểm đ Khoản 2 Điều 134 BLHS ; điểm b, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 47 BLHS; Khoản 1, điểm a,c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS. Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội quy định về án, phí lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn K, Ngân Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích"
Xử phạt: Bị cáo Hà Văn K 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày từ ngày 07/8/2023 đến ngày 16/8/2023.
Bị cáo Ngân Văn H 24 (hai tư) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bắt giam thi hành án.
Về phần dân sự: Công nhận phần dân sự của các bị cáo với bị hại đã giải quyết xong.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gậy tre dài 90cm, đường kính dài 3,5cm; 01 con dao loại dao tự chế dài 60cm, bản rộng 05cm, một lưỡi sắc, mũi dao nhọn; 01 áo lao động màu xanh - đỏ - cam có tên logo “CDC”, cổ áo có chữ “K-K”, màu trắng; 01 áo phông cọc tay cổ tròn, màu đen, tay áo màu vàng. Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sầm Sơn theo Biên bản giao nhận vật chứng số 25/BBVC-CCTHA ngày 06/3/2024.
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án đối với khoản tiền án phí theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Quyền kháng cáo: Các bị cáo Ngân Văn H, Hà Văn K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Hoàng Văn T3 được quyền kháng cáo bản án 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị L |
Bản án số 26/2024/HSST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 26/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm đ khoản 2 Đ 104 BLHS xử phạt Hà Văn K 30 tháng tù, Ngân Văn H 24 tháng tù
