|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 26/2024/HS-ST Ngày 07/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN NHÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Phạm Hoà
- - Bà Bùi Thị Cẩm
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Trực – Kiểm sát viên.
Vào ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Lê Văn T, sinh ngày 01 tháng 03 năm 1986 tại tỉnh Bình Thuận.
Nơi cư trú: Thôn 6, xã Đa Kai, huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Con ông Lê Văn X (Chết); Con bà Nguyễn Thị N (Chết); Vợ: Ngô Thị Xuân D, sinh năm 1991 (Đã ly hôn); Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; Tiền án: Có 01 tiền án về tội " Đánh bạc" (theo bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2022/HS - ST ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai), chưa chấp hành án; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 14/12/2011 bị Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ từ ngày 23/12/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên toà
2. Vũ Văn T1, sinh ngày 01 tháng 07 năm 1988, tại tỉnh Thanh Hoá.
Nơi cư trú: Thôn F, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 7/12; Giới tính: Nam; Con ông Vũ Văn L, sinh năm 1962; Con bà Vũ Thị L1, sinh năm: 1964; Vợ: Trương Thị H, sinh năm 1990; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án: Có 01 tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo bản án hình sự sơ thẩm số 136/2022/HS - ST ngày 13/12/2022 của Toà án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 03/3/2009 bị Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm xử phạt 09 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, bị cáo đã chấp hành xong các quyết định của bản án. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Đ từ ngày 23/12/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên toà
Người bị hại:
- - Ông Nguyễn Thới Đ, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn A, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- - Ông Lê Ngọc H1, sinh năm 1996; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt
- - Ông Hoàng Lương P, sinh năm 1981; nơi cư trú: CH3506-HH1A L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt
- - Ông Lê Chí H2, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn S, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt
- - Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1991; nơi cư trú: K đường C, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
- - Ông Võ Công T3, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn M, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- - Ông Trương Văn T4, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
Người làm chứng:
- - Ông Phạm Xuân L2, sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
- - Bà Đào Thị L3, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 19/12/2023, Lê Văn T và Vũ Văn T1 đón xe ô tô khách đi từ tỉnh Bình Thuận đến tỉnh Bình Định (khi đi T và T1 có đem theo 01 xe mô tô biển số: 60B8- 772.60). Khi đến khu vực cầu B, thị xã A, tỉnh Bình Định thì T và T1 xuống xe, sau đó T điều khiển xe mô tô biển số: 60B8- 77260 chở T1 đi trên Quốc lộ A theo hướng từ N ra B. Trên đường đi Lê Văn T và Vũ Văn T1 đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, T điều khiển xe mô tô chở T1 đến đoạn Quốc lộ A thuộc thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, thấy có 01 xe ô tô BKS 76H- 02020( loại xe tải đông lạnh) do ông Nguyễn Đức T5 điều khiển, đang dừng ở phía đông đường Q, đầu xe ô tô quay ra hướng Bắc, lúc này ông T5 xuống xe đi ra phía sau thùng xe để kiểm tra hàng hóa nhưng không đóng khóa cửa cabin xe ô tô, ông Lê Ngọc H1 là tài xế đi cùng, đang ngủ trên cabin xe ở ghế bên phụ. Thương vòng xe mô tô lại đứng bên lề đường phía Tây, đầu xe mô tô quay về hướng N, T1 ngồi trên xe mô tô canh gác còn T đi bộ trèo qua rào chắn của giải phân cách qua đường đến vị trí xe ô tô đang đậu, T thấy trong cabin xe có ông Lê Ngọc H1 đang ngủ bên phía ghế phụ và có 02 điện thoại di động để ngay vị trí cần số của xe ô tô, T mở cửa xe ô tô nhưng do T đang mặc áo mưa sợ bị phát hiện nên quay lại vị trí dừng xe mô tô và nói với T1: “Trên xe có 02 cái điện thoại kìa, qua lấy đi”, T lên xe mô tô ngồi, còn T1 đi bộ trèo qua rào chắn giải phân cách qua đường đến nơi đậu xe ô tô, T1 mở cửa xe bên tài lấy 02 điện thoại: 01 (một) điện thoại di động Oppo A16 màu xanh và 01 (một) điện thoại di động Iphone Xs Max màu đen. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở T1 theo Quốc lộ A đi vào hướng N1, khi đến Ngã 3 đường T thuộc phường P, thị xã Đ, T điều khiển xe mô tô quay ngược ra hướng Bắc khoảng 20m, T dừng xe lại để T1 tháo 02 sim trong 02 điện thoại vừa trộm cắp được vứt bỏ bên lề đường Quốc lộ 1A, T1 đưa 02 điện thoại cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô. Sau đó T chở T1 đến Ngã tư T, thuộc xã Đ, huyện M để ăn sáng, uống cà phê và đến Khách sạn S thuộc xã Đ, huyện M để ngủ. Trên đường đi đã làm rơi hai điện thoại di động nêu trên.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 25/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ xác định: 01 điện thoại di động Oppo A16, màu xanh, giá trị còn lại là: 1.470.000 đồng. 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu đen, 64GB, giá trị còn lại là: 4.245.000 đồng. Tổng giá trị còn lại là: 5.715.000 đồng
Vụ thứ 2:
Khoảng 01 giờ ngày 21/12/2023, T điều khiển xe mô tô chở T1 đi từ khách sạn S về hướng Bắc đến Bến xe Q, sau đó tiếp tục đi khoảng 20 phút (không rõ địa điểm) thấy có xe ô tô tải đang đậu ở phía Đông đường Q, lúc này khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày, T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 30m thì dừng lại, T1 đi bộ đến mở cửa cabin xe ô tô ( cửa không khóa) lấy 01 điện thoại di động Sam Sung màu đen và 01 điện thoại di động Oppo màu đen, để ở giữa ghế tài và phụ, sau đó T1 tháo sim và đưa 02 điện thoại cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô (vụ này đến nay chưa xác định được bị hại).
Vụ thứ 3:
Tiếp đó T điều khiển xe mô tô chở T1 đi ra hướng Bắc, đến khoảng 04 giờ sáng cùng ngày thì đến đoạn Quốc lộ A thuộc xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, thấy có xe ô tô tải do ông Hoàng Lương P, SN: 1981, trú tại: CH3506 - HH1a L, phường H, quận H, TP ., điều khiển đang đậu ở phía Đông đường Q, ông P ngủ ở ghế phía sau tài xế. T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 30m thì dừng lại, T1 đi bộ đến mở cửa ca bin xe ô tô trộm 01 Ipad màu trắng đang sạc pin, 01 điện thoại di động Realme màu xanh để ở hộc giữa ghế tài và phụ, số tiền 5.000.000 VNĐ và tiền đô la M là: 01 tờ mệnh giá 05 đô, 02 tờ mệnh giá 02 đô, 04 tờ mệnh giá 01 đô để trong ví da, T1 lấy tiền bỏ ví da lại trên xe ô tô, T1 tháo sim I và sim điện thoại vứt bỏ, sau đó đưa toàn bộ tài sản cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô, riêng số tiền T cất vào trong túi áo mưa đang mặc.
Sau khi trộm cắp tài sản 02 vụ trên, T điều khiển xe mô tô chở T1 tiếp tục đi ra huyện N, tỉnh Quảng Nam đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, T và T1 ăn sáng sau đó thuê nhà nghỉ trên đường Q để nghỉ, ngủ.
Vụ thứ 4:
Khoảng 02 giờ 10 phút ngày 22/12/2023, T điều khiển xe mô tô chở T1 đi từ huyện N, tỉnh Quảng Nam về hướng Nam khoảng 10km, thấy có xe ô tô tải đang đậu bên phía Tây đường Quốc lộ 1A (đầu xe ô tô quay về hướng N), T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 30m thì dừng lại, T1 đi bộ đến cabin xe ô tô lấy 01 điện thoại Oppo màu đỏ để ở giữa ghế tài và phụ, bọc vào túi quần, sau đó T1 đã đưa điện thoại này cho T cùng với số tài sản của vụ trộm thứ 5. (vụ trộm thứ 4 chưa xác định được bị hại).
Vụ thứ 5:
Sau vụ thứ 4, T điều khiển xe mô tô chở T1 đi vào hướng N1, đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 22/12/2023 thì đến đoạn QL1A thuộc xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, thấy có xe ô tô tải do ông Lê Chí H2 điều khiển, đang đậu ở phía Đ đường Q (đầu xe ô tô quay về hướng B), ông H2 ngủ ở ghế phía sau tài xế. Thương dừng lại bên lề đường phía Tây QL1A (đối diện xe ô tô), T1 đi bộ đến cabin xe ô tô, thấy cửa kính xe hở không đóng kín, T1 đưa tay vào bên trong mở cửa xe ô tô, lấy 01 điện thoại di động Iphone 12 màu trắng đang sạc và 01 ví da để bên cạnh điện thoại, T1 lấy số tiền có trong ví da là 01 triệu đồng và bỏ ví da lại, sau đó T1 xuống xe tháo sim điện thoại di động Iphone 12 và điện thoại (không rõ hiệu) trong vụ thứ 4, đưa cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô. Riêng số tiền 01 triệu đồng Thìn cất giữ.
Vụ thứ 6:
Sau vụ thứ 5, T điều khiển xe mô tô chở T1 đi về hướng N, lúc này khoảng 03 giờ ngày 22/12/2023, vẫn còn trên đoạn Quốc lộ A, thuộc địa bàn xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, thấy có xe ô tô đầu kéo do ông Võ Công T3 điều khiển, đang đậu ở phía T đường Q (đầu xe ô tô quay về hướng N), ông T3 ngủ ở ghế phía sau tài xế. T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 30m thì dừng lại, T1 đi bộ đến mở cửa cabin xe ô tô lấy 01 điện thoại Iphone 11 màu trắng, sau đó đưa cho T, T bấm mật khẩu 123456 thì mở được, T vào đăng xuất I1 và đưa điện thoại lại cho T1, T1 tháo bỏ sim và sử dụng cho đến khi bị Cơ quan Công an phát hiện.
Vụ thứ 7:
Sau vụ thứ 6, T điều khiển xe mô tô chở T1 đi về hướng N, đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 22/12/2023 thì đến đoạn Quốc lộ A thuộc xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam, thấy có xe ô tô đầu kéo do ông Nguyễn Trọng Tín điều k, đang đậu ở phía Tây đường QL1A (đầu xe ô tô quay về hướng N), ông T2 ngủ ở ghế phía sau tài xế. T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 30m thì dừng lại, T1 đi bộ đến cabin xe, cửa kính xe hở, T1 đưa tay vào bên trong mở cửa xe, lấy 01 điện thoại di động Realme màu đen, T1 tháo sim và đưa điện thoại cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô.
Vụ thứ 8:
Sau vụ thứ 7, T điều khiển xe mô tô chở T1 đi về hướng N, đến khoảng 05 giờ ngày 22/12/2023, thì đến đoạn đường Q thuộc phường N, TP ., tỉnh Quảng Ngãi, thấy có xe ô tô tải do ông Trương Văn T4, SN: 1986, trú tại: thôn T, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi điều khiển, đang đậu ở phía Đông đường Q, ông T4 ngủ ở ghế phía sau tài xế, T điều khiển xe mô tô vòng qua bên đường, sau đó T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 10m thì dừng lại và đi bộ đến mở cửa cabin xe bên phụ lấy 01 điện thoại di động Vivo màu xanh và 01 điện thoại di động Mi màu đen đang sạc pin, T bỏ 02 điện thoại vào túi áo mưa đang mặc rồi xuống xe đi lại nói với T1: “Lên xe coi còn gì không thì lấy” Thìn đi đến mở cửa cabin xe lấy 01 túi vải nhỏ treo phía sau ghế tài xế. Sau đó T chở T1 đi qua bên kia đường rồi dừng lại, T lấy 02 điện thoại đưa cho T1 để tháo bỏ sim rồi cất vào túi xách trước baga xe mô tô, T1 mở túi vải thấy bên trong có 02 nhẫn đeo tay bằng kim loại màu vàng, 01 đồng hồ đeo tay và 01 cục sạc của đồng hồ, T1 bỏ tài sản vào túi xách trước baga xe mô tô còn túi vải bỏ lại bên đường.
Sau khi trộm cắp tài sản vụ thứ 8, T điều khiển xe mô tô chở T1 tiếp tục đi về hướng Nam đến khách sạn S, thuộc xã Đ, huyện M thuê phòng ngủ đến chiều cùng ngày thì bị Công an thị xã Đ phát hiện, bắt giữ.
Đối với các vụ trộm trên địa bàn huyện N, tỉnh Quảng Nam (vụ 5, 6, 7) Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam để tiến hành xác minh theo quy định.
Ngày 01/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn T và Vũ Văn T1, về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 2 Điều 173 BLHS để xét xử vụ án độc lập.
Đối với vụ trộm trên địa bàn thành phố Q (vụ 8), Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan CSĐT Công an T6 để tiến hành xác minh theo quy định. Qua kết quả định giá tài sản, giá trị tài sản do Lê Văn T và Vũ Văn T1 chiếm đoạt trong vụ trộm này dưới 2.000.000đồng. Ngày 04/04/2024 Cơ quan CSĐT Công an T6 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn T và Vũ Văn T1 và chuyển hồ sơ lại cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ để xử lý theo thẩm quyền.
Đối với vụ trộm cắp tài sản (vụ 3) xảy ra trên địa bàn huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã chuyển thông tin về tội phạm và bàn giao vật chứng có liên quan đến Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để tiến hành xác minh theo quy định. Qua kết quả định giá tài sản, tổng giá trị tài sản do Lê Văn T và Vũ Văn T1 chiếm đoạt trong vụ trộm này có giá là: 15.316.290 đồng. Ngày 15/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã khởi tố vụ án và ngày 04/4/2024 đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ để nhập vụ án theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số: 24/ CT - VKSĐP ngày 25/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố Lê Văn T và Vũ Văn T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Lê Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam; đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt Vũ Văn T1 từ 18 tháng đến 24 tháng tù giam. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2022/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai; buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tạm giữ và đã xử lý:
- - Đối với: 01 (một) thẻ sim, trên mặt trước thẻ sim có chữ Mobifone, có chữ số 4G và có mã số: 8401.1911.3309.2512. 01 (một) thẻ sim, trên mặt trước thẻ sim có chữ Viettell, có chữ số 4G và có mã số: 89840.48000.07568.5195. Qua kiểm tra, xác định đây là tài sản của bị hại ông Nguyễn Đức T5 và Lê Ngọc H1 (trong vụ trộm thứ 1). Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại cho các bị hại nên không đề nghị xem xét.
- - Đối với vụ trộm trên địa bàn thành phố Q (vụ 8) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Vivo màu xanh; 01 (một) điện thoại di động Mi màu đen, Mode: M1806E7TG; 01 (một) đồng hồ có mặt màu đen, viền màu bạc, dây đeo bằng cao su màu xanh; 01 (một) bộ sạc; 01 (một) nhẫn, bằng kim loại, màu vàng, có mặt hình chữ nhật kích thước (3x2)cm, đường kính 2,1cm và 01 (một) nhẫn, bằng kim loại, màu vàng, trên nhẫn có đính 01 hạt màu xanh, đường kính 02cm, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T6 đã trả lại các tài sản trên cho các bị hại nên không đề nghị xem xét.
- - Đối với vụ trộm trên địa bàn huyện B (vụ 3) gồm có: 01 (một) Ipad màu vàng, Mode: A1823, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng. Tiền đô la Mỹ: 01 tờ mệnh giá 05 đô, có số sê ri: ML20252709A; 01 tờ mệnh giá 02 đô, có số sê ri: B31703321A; 01 tờ mệnh giá 02 đô, có số sê ri: G06084187A; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: B38549216B; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: B38549125B; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: B42041405M; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: L01253397C. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại các tài sản trên cho bị hại nên không đề nghị xem xét.
- - Đối với các vụ trộm xảy ra trên địa bàn huyện N, tỉnh Quảng Nam (vụ 5, 6, 7) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 màu trắng, đã qua sử dụng và số tiền VNĐ là 1.000.000 đồng. 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro màu bạc, số máy: MWCJ2LL/A, số IMEI 1: 353239108002079, số IMEI 2: 353239107886894, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động Redmi màu đen, Mode: 2201117TG, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam đã thụ lý, giải quyết theo quy định nên không xem xét (hiện vụ án đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử).
- - Đối với hai vụ trộm không xác định được địa điểm vụ thể (vụ 2 và vụ 4) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đen; 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen, Mode: CPH2349, số IMEI 1: 862052051428397, số IMEI 2: 862052051428389, có gắn 01 ốp lưng bằng nhựa dẻo đã cũ; 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đỏ, đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã thông báo truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa xác định được người bị hại. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ và xử lý sau.
- - Đối với: 01 (một) biển số xe mô tô 43F1- 287.29, theo Lê Văn T và Vũ Văn T1 khai nhận trong quá trình di chuyển trên đường đã lượm được. Qua xác minh, chủ sở hữu xe máy có BKS 43F1- 287.29 là của ông Phạm Xuân L2, SN: 1995, trú tại: Tổ A, phường H, quận L, TP . nhưng đã bán cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào tháng 8/2023. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- - Đối với: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 021545, tên chủ xe Dương Đình D1, 1991, địa chỉ: Ấp D, Sông T, TB, ĐN, biển số đăng ký: 60B8-772.60; 01(một) xe mô tô có số khung: RLCU60610GY260487, số máy: G3D4E273390, có gắn BKS: 60B8-772.60; 01 (một) ống điếu vặn ốc dài 16,5cm, bằng kim loại, trên ống điếu có chữ “Rebel 8mm, dạng chữ L”. 01 kìm bằng kim loại dài 17cm, cán kìm bọc nhựa, trên cán kìm có chữ “MEINFA”. Qua làm việc, Lê Văn T khai mua xe mô tô trên vào khoảng tháng 10/2022 của 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Qua xác minh, hiện nay ông Dương Đình D1 không có mặt tại địa phương. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- - Đối với: 01 (một) điện thoại di động OPPO A93 màu bạc, kiểu máy CPH2121, số IMEI 1: 868057057368871, số IMEI 2: 868057057368863, đã qua sử dụng và 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Lê Văn T. Đây là tài sản của Lê Văn T không có liên quan trong vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại cho Lê Văn T nên không xem xét.
- - Đối với: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, số máy: MQ8T2LL/A, số IMEI: 352976091788401, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động màu xanh (loại bàn phím), Mode: TA-1174, số IMEI 1: 353141113077924, số IMEI 2: 353141118077929, đã qua sử dụng. 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Vũ Văn T1. Đây là tài sản của Vũ Văn T1 không có liên quan trong vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại cho Vũ Văn T1 nên không xem xét.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã xử lý những vật chứng trên là đúng pháp luật nên không xét.
Đề nghị xử lý các vật chứng còn lại như sau:
- - Đối với số tiền 3.790.000 đồng tạm giữ của Lê Văn T và số tiền 2.040.000 đồng tạm giữ của Vũ Văn T1 là số tiền trộm ở vụ thứ 3 ở B. Các bị cáo thừa nhận số tiền này do phạm tội mà có trong đó có 5.000.000 đồng trộm của ông Hoàng Lương P do đó nên trả lại cho ôn Hoàng Lương P 5.000.000đồng và tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 830.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu huỷ: Đối với: 01 (một) cuộn giấy bạc dạng ống, có chiều dài 43cm, đường kính 03cm được sử dụng dang dở. Đây là công cụ phục vụ cho việc phạm tội.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 cùng với gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức T5 số tiền 2.000.000đồng và bị hại Lê Ngọc H1 số tiền 4.000.000 đồng. Ông Nguyễn Đức T5 và ông Lê Ngọc H1 không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề nghị xem xét.
Bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 cùng với gia đình trả cho bà Đào Thị L3 - chủ Khách sạn Sao Mai số tiền 400.000 đồng. Bà Đào Thị L3 không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề nghị xem xét.
Đối với tài sản trộm cắp tại địa bàn phường N, thành phố Q, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T6 đã trả lại cho bị hại Trương Văn T4, ông T4 không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.
Đối với yêu cầu bồi thường của ông Hoàng Lương P thì hiện nay số tiền ông P bị trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ nên trả lại cho ông P số tiền 5.000.000đồng
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Tại phiên tòa các bị hại và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do; tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Do vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người làm chứng.
- [1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về hành vi phạm tội của bị cáo:
- Tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo:
- [3.1] Bị cáo Lê Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức điều khiển được hành vi của mình, biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cho cá nhân, lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu, bị cáo trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản bị cáo cùng với bị cáo Vũ Văn T1 trộm cắp (vụ 1 và 3) của các bị hại là 21.031.290 đồng. Bị cáo với vai trò tích cực chuẩn bị phương tiện xe mô tô để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo có 01 tiền án về tội Đánh bạc bị xét xử năm 2022 với hình phạt 08 (tám) tháng tù nhưng chưa chấp hành án, đáng lẽ phải lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân, nhưng ngược lại bị cáo xem thường pháp luật tiếp tục phạm tội. Vì vậy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố Lê Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- [3.2] Bị cáo Vũ Văn T1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức điều khiển được hành vi của mình, biết trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu xài cho cá nhân, lợi dụng sự mất cảnh giác của chủ sở hữu, bị cáo trộm cắp tài sản. Tổng giá trị tài sản bị cáo cùng với bị cáo Lê Văn T trộm cắp (vụ 1 và 3) của các bị hại là 21.031.290 đồng. Bị cáo với vai trò tích cực cùng Lê Văn T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo có 01 tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" xét xử năm 2022 chưa được xóa án tích, đáng lẽ bị cáo lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, nhưng ngược lại bị cáo xem thường pháp luật tiếp tục phạm tội. Vì vậy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố Vũ Văn T1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Về xử lý vật chứng:
- - Đối với: 01 (một) thẻ sim, trên mặt trước thẻ sim có chữ Mobifone, có chữ số 4G và có mã số: 8401.1911.3309.2512. 01 (một) thẻ sim, trên mặt trước thẻ sim có chữ Viettell, có chữ số 4G và có mã số: 89840.48000.07568.5195. Qua kiểm tra, xác định đây là tài sản của bị hại ông Nguyễn Đức T5 và Lê Ngọc H1 (trong vụ trộm thứ 1). Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại cho các bị hại nên không xem xét.
- - Đối với vụ trộm trên địa bàn thành phố Q ( vụ 8) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Vivo màu xanh; 01 (một) điện thoại di động Mi màu đen, Mode: M1806E7TG; 01 (một) đồng hồ có mặt màu đen, viền màu bạc, dây đeo bằng cao su màu xanh; 01 (một) bộ sạc; 01 (một) nhẫn, bằng kim loại, màu vàng, có mặt hình chữ nhật kích thước (3x2)cm, đường kính 2,1cm và 01 (một) nhẫn, bằng kim loại, màu vàng, trên nhẫn có đính 01 hạt màu xanh, đường kính 02cm, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T6 đã trả lại các tài sản trên cho các bị hại nên không xem xét.
- - Đối với vụ trộm trên địa bàn huyện B (vụ 3) gồm có: 01 (một) Ipad màu vàng đồng, M1: A1823, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng. Tiền đô la Mỹ: 01 tờ mệnh giá 05 đô, có số sê ri: ML20252709A; 01 tờ mệnh giá 02 đô, có số sê ri: B31703321A; 01 tờ mệnh giá 02 đô, có số sê ri: G06084187A; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: B38549216B; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: B38549125B; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: B42041405M; 01 tờ mệnh giá 01 đô, có số sê ri: L01253397C. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại các tài sản trên cho bị hại nên không xem xét.
- - Đối với các vụ trộm xảy ra trên địa bàn huyện N, tỉnh Quảng Nam (vụ 5, 6, 7) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 màu trắng, đã qua sử dụng và số tiền VNĐ là 1.000.000 đồng. 01 (một) điện thoại di động Iphone 11 Pro màu bạc, số máy: MWCJ2LL/A, số IMEI 1: 353239108002079, số IMEI 2: 353239107886894, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động Redmi màu đen, Mode: 2201117TG, Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam đã thụ lý, giải quyết theo quy định nên không xem xét.
- - Đối với hai vụ trộm không xác định được địa điểm cụ thể (vụ 2 và vụ 4) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đen; 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen, Mode: CPH2349, số IMEI 1: 862052051428397, số IMEI 2: 862052051428389, có gắn 01 ốp lưng bằng nhựa dẻo đã cũ; 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đỏ, đã qua sử dụng. Trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã thông báo truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa xác định được người bị hại. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ và xử lý sau.
- - Đối với: 01 (một) biển số xe mô tô 43F1- 287.29, theo Lê Văn T và Vũ Văn T1 khai nhận trong quá trình di chuyển trên đường đã lượm được. Qua xác minh, chủ sở hữu xe máy có BKS 43F1- 287.29 là của ông Phạm Xuân L2, SN: 1995, trú tại: Tổ A, phường H, quận L, TP . nhưng đã bán cho 01 người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) vào tháng 8/2023. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- - Đối với: 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 021545, tên chủ xe Dương Đình D1, 1991, địa chỉ: Ấp D, Sông T, TB, ĐN, biển số đăng ký: 60B8-772.60; 01(một) xe mô tô có số khung: RLCU60610GY260487, số máy: G3D4E273390, có gắn BKS: 60B8-772.60; 01 (một) ống điếu vặn ốc dài 16,5cm, bằng kim loại, trên ống điếu có chữ “Rebel 8mm, dạng chữ L”. 01 kìm bằng kim loại dài 17cm, cán kìm bọc nhựa, trên cán kìm có chữ “MEINFA”. Qua làm việc, Lê Văn T khai mua xe mô tô trên vào khoảng tháng 10/2022 của 01 người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Qua xác minh, hiện nay ông Dương Đình D1 không có mặt tại địa phương. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ sẽ tiếp tục xác minh và xử lý sau.
- - Đối với: 01 (một) điện thoại di động OPPO A93 màu bạc, kiểu máy CPH2121, số IMEI 1: 868057057368871, số IMEI 2: 868057057368863, đã qua sử dụng và 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Lê Văn T. Đây là tài sản của Lê Văn T không có liên quan trong vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại cho Lê Văn T nên không xem xét.
- - Đối với: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu đen, số máy: MQ8T2LL/A, số IMEI: 352976091788401, đã qua sử dụng. 01 (một) điện thoại di động màu xanh (loại bàn phím), Mode: TA-1174, số IMEI 1: 353141113077924, số IMEI 2: 353141118077929, đã qua sử dụng. 01 (một) Căn cước công dân số [...] của Vũ Văn T1. Đây là tài sản của Vũ Văn T1 không có liên quan trong vụ án. Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã trả lại cho Vũ Văn T1 nên không xem xét.
- - Đối với số tiền 3.790.000 đồng tạm giữ của Lê Văn T và số tiền 2.040.000 đồng tạm giữ của Vũ Văn T1 là số tiền trộm ở vụ thứ 3 ở B. Các bị cáo thừa nhận số tiền này do phạm tội mà có trong đó có 5.000.000 đồng trộm của ông Hoàng Lương P. Do đó trả lại cho ông Hoàng Lương P 5.000.000đồng và tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 830.000 đồng.
- - Tịch thu tiêu huỷ: Đối với 01 (một) cuộn giấy bạc dạng ống, có chiều dài 43cm, đường kính 03cm được sử dụng dang dở. Đây là công cụ phục vụ cho việc phạm tội.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về các tình tiết có liên quan trong vụ án.
- - Đối với các vụ trộm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (vụ 5, 6, 7) Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Quảng Nam đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Lê Văn T và Vũ Văn T1 nhưng đến nay không chuyển hồ sơ để Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ xử lý theo quy định nên không xem xét (hiện vụ án đang trong giai đoạn chuẩn bị xét xử).
- - Đối với vụ trộm trên địa bàn thành phố Q (vụ 8), qua kết quả định giá tài sản giá trị tài sản do Lê Văn T và Vũ Văn T1 chiếm đoạt là: 1.915.000 đồng. Ngày 04/04/2024 Cơ quan CSĐT Công an T6 đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong vụ trộm này nên không xem xét.
- - Đối với hai vụ trộm không xác định được địa điểm cụ thể (vụ 2 và vụ 4) gồm có: 01 (một) điện thoại di động Samsung màu đen; 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đen và 01 (một) điện thoại di động OPPO màu đỏ. Trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã thông báo truy tìm bị hại nhưng đến nay chưa xác định được người bị hại. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tiếp tục tạm giữ để xác minh làm rõ và xử lý sau.
- Đề nghị của Kiểm sát viên về phần hình phạt đối với các bị cáo; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí:
Tại phiên tòa các bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định:
Khoảng 10 giờ ngày 19/12/2023, Lê Văn T và Vũ Văn T1 đón xe ô tô khách đi từ tỉnh Bình Thuận đến tỉnh Bình Định. Khi đến khu vực cầu B, thị xã A, tỉnh Bình Định thì T và T1 xuống xe, sau đó T điều khiển xe mô tô biển số 60B8- 77260 chở T1 đi trên Quốc lộ A theo hướng từ N ra B. Trên đường đi Lê Văn T và Vũ Văn T1 8 lần thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của một số bị hại; trong đó có 02 vụ trộm bị Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố, cụ thể như sau:
Vụ thứ 1:
Khoảng 05 giờ 10 phút ngày 20/12/2023, T điều khiển xe mô tô chở T1 đến đoạn Quốc lộ A thuộc thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi, thấy có 01 xe ô tô BKS 76H- 02020 (loại xe tải đông lạnh) do ông Nguyễn Đức T5 điều khiển, đang dừng ở phía đông đường Q, đầu xe ô tô quay ra hướng Bắc, lúc này ông T5 xuống xe đi ra phía sau thùng xe để kiểm tra hàng hóa nhưng không đóng khóa cửa cabin xe ô tô, ông Lê Ngọc H1 là tài xế đi cùng, đang ngủ trên cabin xe ở ghế bên phụ. T1 mở cửa xe bên tài lấy 02 điện thoại: 01 điện thoại di động Oppo A16 màu xanh và 01 điện thoại di động Iphone Xs Max màu đen. Sau đó T điều khiển xe mô tô chở T1 theo Quốc lộ A đi vào hướng N1, khi đến Ngã 3 đường T thuộc phường P, thị xã Đ, T điều khiển xe mô tô quay ngược ra hướng Bắc khoảng 20m, T dừng xe lại để T1 tháo 02 sim trong 02 điện thoại vừa trộm cắp được vứt bỏ bên lề đường Quốc lộ 1A, T1 đưa 02 điện thoại cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô. Trên đường đi đã làm rơi hai điện thoại di động nêu trên.
Theo kết luận định giá tài sản ngày 25/12/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Đ xác định: 01 điện thoại di động Oppo A16, màu xanh, giá trị còn lại là 1.470.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone Xs Max, màu đen, 64GB, giá trị còn lại là 4.245.000 đồng. Tổng giá trị còn lại là 5.715.000 đồng.
Vụ thứ 3:
Khoảng 04 giờ ngày 21/12/2023 T điều khiển xe mô tô chở T1 đi ra hướng Bắc đến đoạn Quốc lộ A thuộc xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, thấy có xe ô tô tải do ông Hoàng Lương P điều khiển đang đậu ở phía Đông đường Q, ông P ngủ ở ghế phía sau tài xế. T chạy qua đầu xe ô tô khoảng 30m thì dừng lại, T1 đi bộ đến mở cửa ca bin xe ô tô trộm 01 Ipad màu trắng đang sạc pin, 01 điện thoại di động Realme màu xanh để ở hộc giữa ghế tài và phụ, số tiền 5.000.000 VNĐ và tiền đô la M là: 01 tờ mệnh giá 05 đô, 02 tờ mệnh giá 02 đô, 04 tờ mệnh giá 01 đô để trong ví da, T1 lấy tiền bỏ ví da lại trên xe ô tô, T1 tháo sim I và sim điện thoại vứt bỏ, sau đó đưa toàn bộ tài sản cho T cất vào túi xách để trước baga xe mô tô, riêng số tiền T cất vào trong túi áo mưa đang mặc.
Qua kết quả định giá tài sản, tổng giá trị tài sản do Lê Văn T và Vũ Văn T1 chiếm đoạt trong vụ trộm này có giá là 15.316.290 đồng. Ngày 15/3/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã khởi tố vụ án và ngày 04/4/2024 đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ để nhập vụ án theo quy định.
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đ truy tố các bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Văn T phạm tội 02 lần trở lên, có 01 tiền án về tội "Đánh bạc" chưa chấp hành án nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, đây là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g, h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Lê Văn T thành khẩn khai báo, đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại, đây là những tình tiết cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Với tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vũ Văn T1 phạm tội 02 lần trở lên, có 01 tiền án về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm đây là những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g, h khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự;
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo Vũ Văn T1 đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại đây là những tình tiết cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Với tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ tạm giữ và đã xử lý:
Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ đã xử lý những vật chứng trên là đúng pháp luật nên không xét.
Đề nghị xử lý các vật chứng còn lại như sau:
Bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 cùng với gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Đức T5 số tiền 2.000.000 đồng và bị hại Lê Ngọc H1 số tiền 4.000.000 đồng. Ông Nguyễn Đức T5 và ông Lê Ngọc H1 không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề nghị xem xét.
Bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 cùng với gia đình trả cho bà Đào Thị L3 - chủ Khách sạn Sao Mai số tiền 400.000 đồng. Bà Đào Thị L3 không có yêu cầu gì về dân sự nên không đề nghị xem xét.
Đối với tài sản trộm cắp tại địa bàn phường N, thành phố Q, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T6 đã trả lại cho bị hại Trương Văn T4, ông T4 không có yêu cầu gì nên không đề nghị xem xét.
Đối với yêu cầu bồi thường của ông Hoàng Lương P thì hiện nay số tiền ông P bị trộm cắp, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ nên trả lại cho ông P số tiền 5.000.000đồng.
Các bị cáo Lê Văn T, Vũ Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38; Đều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cuộn giấy bạc dạng ống, có chiều dài 43cm, đường kính 03cm được sử dụng dang dở. Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
- - Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 830.000 đồng (Tám trăm ba mươi nghìn đồng) do các bị cáo phạm tội mà có. Hiện số tiền đang tạm giữ trong tài khoản số 3949.0.1043763.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn T và Vũ Văn T1 bồi thường cho ông Hoàng Lương P số tiền 5.000.000đồng (năm triệu đồng). Số tiền trên hiện đang tạm giữ trong tài khoản số 3949.0.1043763.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và các Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Văn T, Vũ Văn T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; các bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm tù.
Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 121/2022/HS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.
Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Văn T1 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2023.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Trung |
Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 26/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: th trộm cắp tài sản
